Nhanh thế! Mới hồi nào đã hơn ba năm trôi qua rồi. Ta ôn lại những hình ảnh này một chút để chuẩn bị cho 45 năm sắp đến nhé. Cầu mong mọi người còn đủ cả. Cựu chiến binh Trung đoàn 42 Pháo binh Đông nam bộ, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày thành lập. Gặp mặt tại Trấn Vũ Ba Đình Hà Nội.
Hãy bấm vào Đây để xem lại đồng đội ơi! Vào đây
Cựu chiến binh Trung đoàn 42 Pháo binh chiến trường miền Đông Nam bộ - Email: e42phaobinh@yahoo.com.vn - e42phaobinhgm@gmail.com
Thứ Hai, 2 tháng 6, 2014
Thứ Hai, 26 tháng 5, 2014
Về việc dự buổi gặp mặt truyền thống Quân đoàn 4
Quân đoàn 4 chuẩn bị tổ chức:
“GẶP MẶT KỶ NIỆM 40 NĂM THÀNH LẬP QUÂN ĐOÀN 4”
CCB Trung đoàn 42 sẽ tham dự trong đội hình Sư đoàn 9.
BLL CCB E42 xin thông báo:
- Các đồng chí muốn tham dự đăng ký với đồng chí
Nguyễn Đức Bảo ĐT: 0982 303 118 trước ngày 31/5/2014 - Thời gian và địa điểm buổi gặp mặt sẽ được thông báo qua điện thoại và trang web của đơn vị, ngay khi được BTC quyết định.
- Kinh phí dự kiến 100 000 đ/người (tiền ăn bữa trưa)
- Thông tin đến các CCB khác cùng biết
Hà Nội ngày 25 tháng 5 năm 2014
T/M BLL CCB TRUNG ĐOÀN 42 PHÁO BINH
Trưởng ban
Nguyễn Đức Bảo
T/M BLL CCB TRUNG ĐOÀN 42 PHÁO BINH
Trưởng ban
Nguyễn Đức Bảo
Thứ Tư, 12 tháng 3, 2014
12.Hồ Chí Minh, niềm tin vui trở lại ... (Đức Long)
12.Hồ Chí Minh, niềm tin vui trở lại ...
(Bài viết nhân dịp sống, học tập
và làm theo tấm gương đạo đức của Người)
Trong
hội thi báo cáo viên giỏi, Nhân thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" năm 2007 của Chi nhánh NHNo&PTNT
Thăng long. Một thí sinh gái, nhỏ tuổi nhất hội thi đã gợi nhớ cho tôi một câu
chuyện tuy xưa nhưng day dứt lòng người: Năm ấy, giặc Mỹ đánh phá Hà nội ác
liệt lắm. Mùa nước nổi, sông Hồng vượt bờ quai, trên mức báo động 3. Chỉ một
quả bom thù trúng đê, thì cả Hà nội sẽ chìm trong biển nước. Các đ/c Trung ương
khuyên Bác đi sơ tán, bởi Chủ tịch phủ chỉ cách một con sóng Tây hồ là tới mép
nước bờ đê. Bác trả lời: Tôi không bỏ Dân
đâu!...
Người
không bỏ Dân, sao dân nỡ bỏ người. Dân nguyện cùng Người … Kết thúc bài thi,
rất tự nhiên, Bé cất lời ca nho nhỏ. Đôi mắt bé dần đỏ hoe theo lời ca mỗi lúc
mỗi rõ ràng hơn: Chuyện kể rằng trước lúc người đi xa…Bác muốn nghe một câu hò…
Khi Bé ra đời, Bác Hồ chỉ còn trên sách vở, vậy mà khi cất lời ca: Người nghe
có cảm giác, y như "em gái nhỏ năm ấy” bước vào căn phòng nức nở ca, nuốt
từng "lời Bác dặn trước lúc đi xa". Bé ơi! Phải chăng niềm tin mang
sức thần cảm hoá, hay Bác đang về trong mỗi trái tim ta..? Cả hội trường lặng
đi vì xúc động ... Không chỉ tôi mà nhiều người trong khán phòng hôm ấy đã rơi
lệ.
Nhớ thời
còn đánh giặc, khi Thủ đô mới giải phóng, tôi mới lên 7 tuổi, và cũng từ đó,
nghe nói có một "Bác Hồ" được mọi người tin yêu. Thế rồi, cứ vào mỗi đêm
mùng một tháng 9 hàng năm, ngó trước, nhìn sau... trộm viên gạch chân tường Văn
miếu, chen chúc cùng bạn bè giữ chỗ, tranh nhau canh những viên gạch cho tới
sáng để ước gì: trong đoàn quân duyệt binh rầm rập, đều tăm tắp sáng mai có Bác
Hồ đi qua…
Những năm ấy, cứ đến giờ khắc giao thừa, dòng
người đón xuân quanh Hồ gươm đông như kiến hội, bỗng dừng lại, im phăng phắc,
lắng tai... tiếng loa trên cây vọng từng lới chúc ấm áp của Người, như thể đón
nhận không gian mới đầy hạnh phúc tràn về.
Giờ phút
thiêng liêng ấy, tôi áp tai bên ống nghe "Ga len" (một loại thiết bị cổ, tự chế để nghe Radio
thời đó), nuốt từng lời chúc của Người như uống từng dòng sữa Mẹ.
"Miền nam là máu của máu Việt nam, là thịt của thịt Việt nam, sông có thể
cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi..."
Dời ghế
trường cấp III Nguyễn Huệ (Hà đông),
anh em tôi mang dòng sữa ấy vào chiến trường khói lửa, thắng không kiêu, bại
không nản, quyết xả thân vì non sông đất nước, theo lời Bác dạy kính yêu.
Sau ba
đợt tấn công của chiến dịch Mậu thân 68, không chiếm được Sài gòn. Đầu 69, Địch
phản công lại dữ dội. Hầu hết đồng bào ta bị gom vào Ấp chiến lược. Các đơn vị
chủ lực lớn của ta bị đẩy lên sát rừng biên giới Việt Miên. Số ở lại chỉ là rất
ít cấp tiểu đoàn hoặc đại đội độc lập, cùng du kính quân ẩn náu trong dân hoặc
rừng ven đô bí mật bất ngờ đánh nhỏ lẻ. Cuối năm 69, các ngả đường tiếp tế từ
biên giới Bù đốp , Bù đăng xuống Đồng xoài, Phước Vĩnh chúng tôi bị Biệt kích
Mỹ phong tỏa hoàn toàn. Trong lúc Địch tìm diệt ráo riết thì cái đói khủng
khiếp lại ập đến. Một lần trinh sát phước Vĩnh quay về, chúng tôi gần như ngất
xỉu, khi nghe tin "Bác" đã đi xa. Tôi ngả mình dài trên một thân cây đổ,
buông cây súng vô hồn, thẫn thờ bâng quơ nhìn
trời xanh, mấy cành cây xơ xác lá, ngẩn ngơ như mất đi thứ gì quý giá nhất trên
đời. Dưới cái nắng nung người, nồng nặc mùi lá khô vì chất độc diệt cỏ càng làm
cho nỗi buồn thêm tê tái. Thiếu cơm, đói muối lâu ngày, gối chân rã rời. Mặc
cho cây súng trượt sõng soài dưới đất, tôi buột miệng kêu: Mẹ ơi!.... Nghĩ đến,
Miền Bắc quê tôi! đã xa, càng xa vời vợi. Tự hỏi lòng rằng ngày về còn nữa
không em? Chợt nhận ra tiếng than ấy có thể làm đột quỵ anh em, tôi vội lảng
sang chuyện khác. Hỏi "Củ" luộc có còn không?. Tớ đói quá…
...
Chuyện buồn mãi, cho đến một ngày… Lễ tang Bác được cử hành trọng thể tại Hà
nội. Chiến khu "Đ" cùng cả nước nín thở lắng nghe Di chúc của
"Người", do Tổng bí thư Lê Duẩn nghẹn ngào lời điếu văn tiễn biệt.
Một tia sáng, dù chỉ rất nhỏ nhoi, thấp thoáng xuất hiện cuối "đường hầm
69". Chúng tôi chợt nhận ra. Thì ra, Bác đã đi xa, nhưng Đạo đức trong
sáng, ý chí và nghị lực của Người vẫn còn nguyên đây đó. Quan trọng hơn là điều
ấy đã thật sự thấm sâu vào từng con tim, khối óc của từng đồng chí trong BCH
Trung ương lúc bấy giờ, củng cố lại niềm tin "Tất thắng" cho toàn thể
quân và dân hai miền Nam, Bắc quyết chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, dành độc
lập, tự do. Vâng! Những cơn sốt rét thâm môi, tím mắt, cái đói cồn cào quặn
thắt từng cơn, cái chết chỉ cách nửa sợi tóc kề bên. Còn nữa, với sự cám dỗ vật
chất của kẻ thù vẫn mời mọc từng đêm. Chúng tôi quyết không đảo ngũ,"Chiêu
hồi", đầu hàng hay phản bội. Chúng tôi tiếp tục đánh và đánh còn hay hơn
trước... Ấy...Chính là đức tin vào con Người Việt nam trong sáng ấy! Sự trong
sáng của Người khiến những người “có học” ở phía bên kia chiến tuyến cũng phải
nghiêng mình bái biệt. Suốt ngày tang lễ, không một tiếng súng nào của địch bắn
qua.
Đức tin ấy là điểm tựa vững chắc nhất giúp
chúng tôi giành lại từng thế chủ động trên chiến trường Đông nam bộ lúc bấy
giờ. Thế rồi ngày 30 tháng 4 năm 75, đời việc gì đến đã đến. Ước vọng và lời
chúc của Người thành hiện thực, Bác ơi!...Cả nước như trẻ thơ, vui, hò, reo
ngập tràn đại thắng. Sài gòn tưởng như Bác tiến về cùng những canh quân ta.
...Hoà bình lập lại, giang sơn gấm vóc ta đã
gom về một mối. Noi gương "Người", cả nước quyết xây dựng một con
"Rồng" Việt nam mới. Chỉ hơi tiếc rằng, có một thời... mình quá say
"Cộng trạng"...mà sao lãng lời dạy của Người, coi nhẹ lợi ích
"trồng người". Để những bóng ma "Bá Kiến, Chí phèo" lại
chập chờn quay về nhạo báng cảnh trái ngang.
...Giờ đây,
xem lại những thước phim đẫm lệ lễ tang Người, tôi bồi hồi, xúc động, không chỉ
muốn khóc mà còn muốn ước... Nếu được ước thì: ước gì non sông bất khuất VN ta
lại sớm sinh ra một người con đức, tài
như thế, một BCHTW như thế, để hàn vá lại nóc nhà truyền thống đạo đức, để
lấy lại niềm tin "nói và làm" như thế. Và ước gì cái đó lại thấm sâu
vào từng con tim, khối óc của mỗi chúng ta như thuở nào Bác mới "đi
xa". Thế thì "bầy sâu" còn đâu nơi ẩn náu. Cuộc mưu sinh đâu còn
tới độ nhọc nhằn thâu đêm nơi góc chợ, mom sông. Những thế lực "cơ hội" đâu còn
nơi chọc ngoáy khối đại đoàn kết dân mình.
Có một
thời ta đã sống như Người. Đến nay, tại sao ta không thể làm như Người, để tình
đồng chí, nghĩa "Đồng bào" lại mặn nồng như Bác thuở nào vẫn sống ở
trong ta?
Vẫn biết rằng, tạo hóa sinh ra loài
người với trí thông minh càng tuyệt vời bao nhiêu thì lòng tham càng "vô
đáy" bấy nhiêu. Thế gian này biết bao những Thánh nhân cả đời dày công tìm
tòi cái gọi là để "tiết chế" lòng tham vô đáy ấy. Nhưng xem ra còn
nhiều điều phải bàn lắm...
Lòng yêu nước thương dân và Tấm gương đạo đức
trong sáng của Người, phải chăng cũng là "một lời giải" cho bài toán
cực khó ấy? nếu Được vậy thì quý biết bao. Dân giàu, nước mạnh... ngoại xâm
vắng bóng. Tổ quốc vững bền, hòa bình muôn đời mãi mãi Việt nam ta./.
Vui cùng Xuân Giáp Ngọ. Bấm vào đây Xuân tặng Anh 2014 để chúc nhau nào đồng đội ơi:
Thứ Ba, 11 tháng 3, 2014
11- Trở lại Vùng ven
11.TRỞ LẠI VÙNG VEN (4/2006)
Bấm vào đây > hát cho vui nào - Đồng đội ơi!
Tình cờ, VTV3 mời tôi làm nhân chứng cho chương trình
"Bài ca chiến thắng" nhân kỷ niệm 30 năm ngày toàn thắng (30/4/2005).
Thật không may, đúng sau cái đêm vết thương tái phát co giật gần như thức trắng, tôi gắng gượng đến trường quay S9 VTV với
khuôn mặt tái nhợt, (vì trót hứa với Biên tập viên Hoàng Trang đến tận nhà mời)...
Bởi đang đau trong người, tôi như ngồi trên chảo lửa, chỉ mong nhanh chóng kết
thúc chương trình. Ai ngờ kéo đến gần 3 tiếng đồng hồ có khổ thân không chứ. Trộm
nghĩ , đen thế không biết, trăm năm mới có một lần được phỏng vấn trên truyền
hình toàn quốc mà lại bị đau thế này, sức đâu để trả lời tỉnh táo đây. Chỉ có một câu hỏi, làm tôi nhói đau bởi hoàn
cảnh không thể nói ra.
- Sao nhớ chiến trường thế, mà đã 30 năm rồi, chú chưa trở lại
thăm nơi ấy?- MC hỏi. Chẳng lẽ nói cộc lốc một câu; Chú không có tiền đi thì
ngượng chết. Nên đành chữa thẹn rằng -
Chú tin một ngày, có đủ điều kiện chú sẽ trở lại thăm chiến trường xưa! Trộm
nghĩ, bọn trẻ ngày nay được học hành có khác, chúng toàn xoáy đúng vào chỗ cần
xoáy. Chỉ có điều lão già ngại không nói thẳng thôi. Ngày xưa đi đâu, Ở đâu, nhờ
dân đấy, có gì ăn nấy. Ngày nay … Khác lắm rồi!
Nghe nói “cơm tù” dọc quốc lộ 1 mà phát ớn. Không tiền lấy gì mà đi? Lại
còn chuyện, ông bạn lâu ngày mới tìm thấy, nhà nghèo có mỗi con trâu là đầu cơ
nghiệp, đập chết thịt liền đãi đồng đội. Biết chuyện, anh em lại phải quyên góp
bốn phương tám hướng, trong nam ngoài bắc để cứu nguy …. Kể cũng ngại.
… Thế rồi, thấm thoắt đã tròn một năm qua, cũng vào dịp 30
tháng tư năm sau (2006), tôi gom đủ tiền
"Trở lại vùng ven" như đã chót hứa với truyền hình. Nhưng rồi
sau lần ấy chẳng còn ma nào thèm phỏng vấn tôi nữa. Thế là tôi đành viết truyện
“Trở lại vùng ven” này vậy…Sau nhiều lần dập xóa, viết đi sửa lại chưa hài lòng
mà vẫn gửi cho Tuổi trẻ điện tử “Mãi mãi tuổi hai mươi” duyệt đăng liền. Nay
tôi nắn nót lại đôi chút, góp vui cùng đồng đội E42 nghe…
… Con tàu tốc hành hướng nam đưa tôi trở lại vùng chiến sự
hơn 30 năm trước. Ngày ấy, hằn học trên đầu là tiếng gầm rít của các loại máy
bay quân sự mỹ. Rình rập dưới đất với những họng súng đen ngòm núp trong từng gốc
cây, ụ mối. Tôi dán mắt vào cảnh vật lao qua vun vút để cố tìm ra một chút kỷ
niệm xưa. Xa xa lút tầm mắt, non sông ta trải dài mênh mông, kỳ vĩ khiến lòng
tôi nao nao khó tả. Con tàu còn mỏi bánh, vậy mà chỉ với đôi dép cao su, điều
gì khiến chúng tôi xẻ dọc Trường sơn như huyền thoại thế vậy? Phải chăng là sức mạnh kết tinh từ ngàn năm xưa để lại. Tổ quốc tôi!... đất
nước tôi tuyệt vời và đáng yêu biết bao. Có được phút gạt bỏ mọi ưu phiền thường
nhật để thảnh thơi ngắm nhìn không biết chán nước non này, tôi cố liên tưởng
hình bóng người xưa cầm gươm đi mở cõi với đồng đội tôi ngã xuống trong cuộc đấu
tranh để giữ lấy dải đất này, nước mắt bỗng ứa ra. Chúng mày nằm đâu? Mấy thằng
bạn của tôi? Lịch sử được viết thêm những trang vàng trong cuốn sử ngàn năm anh
hùng xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước. Thương người xưa đi mở đất, xót bạn tôi đã
hy sinh. Trở lại Nam bộ lần này, tôi quyết viếng thăm cả những người còn sống
và đã khuất.
Nơi đầu tiên là gặp
mặt các bạn chiến đấu cũ nhân ngày họp mặt hàng năm của tiểu đoàn 10 pháo binh
Miền đông, tại nhà đ/c Thịnh Trinh sát, gần Ngã ba Thái lan, Long thành trên đường
Sài gòn - Vũng tàu. Hơn 30 năm mới gặp lại, chỉ còn biết ôm chặt nhau mà rằng:
Còn sống là tốt rồi. Mong rằng bà con trong quán nước ven đường hiểu cho điều ấy;
“Hai thằng già” ôm chặt nhau còn hơn cả tình nhân. Giọt nước mắt nhớ về kỷ niệm dìu nhau trong lửa
đạn, sốt rét tái từng cơn, bón từng thìa cháo, chia nhau từng hơi thuốc lá, mẩu
sắn lùi. Tình cảm ấy, chỉ có những người lính, từng kinh qua cuộc chiến đấu một
mất một còn mới hiểu được. Chúng tôi ôn lại quá khứ hào hùng của Tiểu đoàn, trải
qua bao thăng trầm lịch sử chiến tranh. Tiểu đoàn ấy, bao nhiêu lần phải bổ
xung quân số? Bao nhiêu lần đổi tên tách ra nhập vào…vv. Đại đội 3 sau trận đọ
súng ven sông Bé (cuối 1969), B40 bóp cò kêu cái tạch, đạn thối không bay, xe
tăng cán lên còn lại vài đứa. Rồi từ một đơn vị Pháo phản lực vác vai thuần nhất
( DKB-K33 thuộc E69- Pháo binh Biên hoà) chuyển dần thành tiểu đoàn hoả lực đa
năng của binh chủng Đặc công (D10 -
367)? Bạn bè tò mò hỏi tôi chết rồi, sao
sống lại?... Ôi đủ chuyện trên đời. Riêng có một chuyện được trao đổi rất nhiều,
đó là trận “ Ma làm” sẽ kể lại riêng.
Lưu luyến chia tay
nhau, tôi tiếp tục đến thăm và cảm ơn vị Trung đoàn trưởng năm ấy, người ra lệnh
dùng dao găm cắt nốt cái chân đứt dở để cứu tôi thoát chết trong trận đánh cuối
cùng. Anh cùng gia đình đang sinh sống tại Phường Thảo điền Quận 2 TP HCM. Nghe
anh kể, tưởng như mới xảy ra hôm qua. Anh nói :
nghĩ lại giây phút ấy là đầu mình lại nhức nhối vô cùng, tiếng gọi cầu cứu, thất thanh: "Anh Bảy ơi... " như đặt
cả niềm tin cứu sống vào người chỉ huy, vẫn còn như tiếng sét trong đầu anh.
Nhìn thằng Chí, biết không sống nổi, nó mất cả mảng mông và cái đùi thì làm sao
sống nổi...Ôm thằng Quế vào lòng, nhét bao nhiêu bông, gạc vào ngực mà máu vẫn
cứ đùn ra. Là chỉ huy, biết chiến sỹ mình đau đớn trước lúc đi xa mà bất lực
hoàn toàn, xót lắm mày ơi. Những năm hoà
bình, anh thường tập thiền nhưng vẫn không sao quên được. Lúc ấy đầu càng đau dữ
dội. Tôi ăn với anh bữa cơm có măng “Le”. Ngày ấy măng Le thay cơm, nhưng bây
giờ lại là đặc sản. Có thể anh đã thông báo cho một số anh em lập nghiệp ở
trong này nên, sau khi chia tay anh, tôi có nhiều cú điện gọi đầu tiên của đồng
đội cũ muốn gặp nhau. Như anh chàng Chu tây ngày ấy đưa tôi đi cấp cứu. Gần 12
giờ đêm rồi mà chuông tôi còn réo, oang oang tiếng anh ta: Nói địa chỉ chỗ mày
đi !... Chỉ cần có địa chỉ thì nửa đêm ngóc ngách nào ở cái đất Sài gòn này,
tao cũng đến được ngay bây giờ... Khuya lắm rồi thôi để lần sau đi, hết phép sớm
mai phải về bắc rồi. Trung, nam, bắc có cả, đồng đội tôi ở lại Sài gòn lập nghiệp
khá đông. Nhưng thời gian hạn hẹp, làm sao đến thăm hết được. Hứa thì hứa vậy
chứ biết khi nào... lần sau đây? Một lần cũng đủ ốm lắm rồi… Nghĩ vậy mà lòng vẫn
cầu mong, may ra có dịp nào đó … chúng nó còn sống cả…
Tạm biệt những người còn sống, tôi đến Đền Bến Dược Củ chi
thăm người đã chết. Thôi, chẳng nhớ chính xác chúng nằm chỗ nào thì đến đây vậy!
Chính nơi đây, tôi đang điều nghiên “Căn cứ Đồng Dù”, có điện gọi về gấp “kết nạp…”.
Thắp nén hương chắp tay cầu nguyện. Ai đó thỉnh lên 3 tiếng chuông dõng dạc,
ngân vang khu đền linh lặng. Không nén nổi xúc động, nước mắt tôi cứ thế trào
ra. Người đến viếng đông lắm, nhưng sao im lặng, trật tự đến thế. Có phải hồn liệt sỹ trên kia vẫn lặng lẽ chứng
giám lòng biết ơn, sự ngưỡng mộ và nhìn lại chính mình của mỗi chúng tôi ? Cầu
cho vong hồn các Bác siêu thoát, cầu cho hoà bình vĩnh cửu trên đất nước này.
Hơn bốn vạn rưởi đồng chí đã ghi danh thành hàng, thành lớp trên kia, và còn
bao nhiêu nữa, chưa tìm thấy hoặc chưa nhớ hết ? Vâng, đó là những anh hùng đã
ngã xuống trong 2 cuộc kháng chiến, dành lại những gì cho thế hệ hôm nay đã có,
đang có và sẽ có.
Ôi!... những cái mái cong như đình, chùa, miếu mạo thường có
trên bao làng quê Việt nam. Nhưng độ bền vững, sự bề thế và trang trọng thì
không đâu bằng. Tôi thầm cảm ơn ai ? đã bảo vệ nguyên trạng mảnh đất còn ghi dấu
tích bom đạn này và tạo nên một quần thể đền đài thờ tự hồn liệt sỹ ngàn năm uy
nghiêm đó. Sông Sài gòn hiền hoà lượn quanh phía sau gợi lại kỷ niệm
của những lần vượt sông trinh sát. Ngày ấy " Bobo" của giặc rẽ sóng
khạc đạn khét lẹt vào đôi bờ ẩn nấp, Trực thăng chiến đấu rà sát mặt sông, săn
đón từng cụm Lục bình trôi tản mạn theo dòng. Vẫn khúc sông này Đồng đội tôi,
những Ai lặng lẽ trôi cùng dòng máu loang không trở lại?...
Cây đèn
"Angcol" tự tạo lại đưa tôi đến một kỷ niệm khác - Rừng địa đạo Củ
chi. Chúng tôi bước vào cửa rừng và thấy mấy chiếc võng đung đưa qua lại - Nhớ
quá đi thôi, năm xưa chúng tôi cũng vắt vẻo như thế. Tôi tiến lại gần và thấy
hơi khác một chút. Hồi ấy, chiếc võng nylon mỏng dính và chúng tôi mắc võng kiểu
khác, đơn giản, nhanh hơn, càng nằm càng chắc chắn, nếu có "động", chỉ
cầm 2 đầu dây giật mạnh, võng tự rời rất nhanh, tiện tay kéo luôn xuống địa đạo
hoặc vừa bôn tẩu vừa cuộn võng lại. Vừa nói tôi vừa thao tác lại để mấy người
cùng xem. Vào sâu trong rừng, một cửa hầm bí mật thời đó hiện ra. Có cậu sinh
viên thăm quan tò mò đã tụt nửa người xuống địa đạo, hai tay giơ lên, miệng la
to : không tụt được. Tôi đùa : Có mấy trái đại bác nổ trên này, chắc cả đoàn SV
các cháu sẽ tụt hết xuống đấy trong nháy mắt thôi. Mọi người cùng cười vang vui
vẻ... như chưa bao giờ được cười vậy. Ngày xưa các cô, các chú cũng cười "đã" như các cháu
vậy đó, nếu tổ quốc bị xâm lăng, màu cờ sắc áo bị lăng nhục, thì dù thế hệ nào
cũng vùng lên kiên cường như vậy cả, lòng tự trọng đó đã ăn sâu vào máu dân nam
ta rồi, các cháu à!
Trang phục của các cháu hướng dẫn viên làm tôi lại nhớ dáng
người thiếu nữ ngày ấy đã hướng dẫn từng bước chân tôi đi tránh mìn gài dưới cỏ,
dẫn tôi giữa lòng địa đạo tối thui. Nay em phiêu bạt nơi đâu? Ô kìa, tượng những
người du kích trong bộ đồ năm ấy (tượng hay Ma nơ canh mốt thời thượng nhỉ?), vẫn
cây đèn "nguéo", vẫn chiếc khăn rằn, tấm vải dù... đứng hiên ngang
trong chiếc lều lợp lá hiện ra trước mắt. Hình như người thiết kế chương trình
này đã đoán trúng tâm lý chúng tôi. May mắn, tôi ghé vào chụp vài tấm hình
chung với các cô ấy làm kỷ niệm. Hồi đó, mang tiếng là cựu trinh sát chủ lực Miền đông, nhưng đã vào đất
Củ chi này thì phải theo chị em du kích, dẫn đâu đi đấy, chỉ đâu chui đấy,
không hề biết cấu trúc tổng quát và phương thức an toàn như hướng dẫn cụ thể
bây giờ. Nghĩ cũng phải thôi. Biết để mà các ông bô bô ra có mà chết cả lũ.
Những hố bom "đìa" chỉ còn sót lại trong rừng được
bảo tồn, có một thời trên đấy trơn trọi là đất khô, khét tanh mùi máu và thuốc
đạn. Nay cây đã lên xanh. Hàng tấn bom mìn được đào lên, vô hiệu hoá và gom
trong các căn nhà mái lá dừa nước, làm lưu niệm. Trong vô số những mảnh bom đó,
mảnh nào đã phạt đứt chân tôi? Câu ca năm ấy
" ...Cá nhớ đồng xưa về xây tổ mới, giữ trứng nuôi con trong từng hố
bom đìa..." khiến lòng tôi dâng lên
một nỗi nhớ, thương, mủi lòng muốn khóc. Còn nhớ những nụ cười năm ấy, trong
khói bom, vẫn hiên ngang không biết cúi đầu. Ôi đẹp làm sao! Cái đẹp của sự rắn
rỏi, duyên dáng, diệu kỳ. Nếu còn phép, chắc hẳn, tôi sẽ ở lại đây một đêm để cảm
nhận dư âm gió sông Sài gòn đung đưa từng nhành cây, ngọn lá, may ra có được giấc
mơ gặp lại người xưa…. Người con gái năm
ấy đang cười với tôi kìa… Nhưng không thể được, tôi đang chạy đua để tìm lại
ngày ấy của chính mình. Có bao nhiêu bạn
bè biết vẫn sống mà chưa gặp mặt? Bao vùng đất và con người đã cứu sống và giúp
tôi vượt qua lửa đạn chiến tranh, vẫn chưa tìm thấy? Nhưng dù ít hay nhiều, tôi
đã tìm lại vài hình ảnh năm xưa của chính mình. Trở về Hà nội với công việc mưu
sinh hàng ngày, ghi lại cảm xúc của mình với đồng đội và mời các bạn trẻ "
Mãi mãi tuổi 20" cùng nghe. Xin gửi khúc tâm tình này đến Huyện đội, ban
quản lý khu di tích Bến Dược - Củ chi và xin trân trọng cảm ơn Đảng, nhà nước
và các đồng chí " Đất thép Thành đồng". Mong các đồng chí giữ mãi
danh hiệu bất tử ấy.
Đức Long
Thứ Hai, 10 tháng 3, 2014
10- Vượn con bám địch
10. Vượn con đi bám địch (1970)
Tập hát cho đời trẻ lại nào đồng đội ơi!
http://www.youtube.com/watch?v=816nee8XORE
Tập hát cho đời trẻ lại nào đồng đội ơi!
http://www.youtube.com/watch?v=816nee8XORE
Chiều Sở thú, mấy chú vượn
đùa nghịch làm tôi chợt nhớ một bi kịch cách đây hơn 30 năm trước. Vào lúc quân
đội Mỹ hung hăng, tàn bạo nhất ở nam Việt nam. Chúng tôi pháo kích một căn cứ
lớn của chúng ở huyện lỵ Phước vĩnh và sau đó bị đánh trả, 8 chiến sỹ mình mất
tích. Căn cứ tôi bị lộ, Địch đổ quân bao vây, tấn công định bắt sống Tiểu đoàn
bộ (K33-E96-F75). Chúng tôi thoát vây vội rút lên căn cứ cũ trên K20 (tây
nam rừng Cát tiên ngày nay) nhưng vẫn không yên tâm, vì chỗ này cũng có thể bị
lộ và chúng sẽ truy kích tiếp. Xuyên rừng, chúng tôi đưa đơn vị sang
tây lộ 14 lập căn cứ mới cách sông Bé chừng 3 Km (1970). Ổn định xong lán trại,
Trinh sát Tiểu đoàn cần trở lại điều nghiên và nắm thêm thông tin về 8 chiến sỹ
mất tích nói trên.
Định phương vị, hướng về xã
Phước sang, nơi ấy Địch vẫn đang cay cú, ráo riết truy tìm tung tích Tiểu đoàn
tôi. Đã hai ngày liền đi theo vết phác thảo trên bản đồ, đến sáng ngày thứ ba
thấy Trực thăng địch đã thu hẹp vùng bay, Pháo địch dội liên tiếp trở lại yểm
trợ. Lẫn trong tiếng pháo địch, một tiếng nổ đanh gọn, một tiếng
"soạt" khô ráp và một vật mềm rớt đến bịch xuống đất. Rừng cây ào ào
như có lốc, đàn vượn hoảng loạn lăng qua, lăng lại ẩn nấp.
- Nổ bậy quá!- Vừa lao tới,
tôi vừa trách mắng lính tôi nổ súng bậy bạ. Trách thì cứ trách, nhưng mừng
trong bụng chắc mẩm sẽ có cái măm đây. Từ ngày đường tiếp tế hậu cần 49 trên Bù
đốp Lộc ninh xuống đây bị cắt đứt, chúng tôi buộc phải đào bới và săn bắt bất
kể cái gì có thể ăn được trước hết là để sống và sau nữa là bám đánh tới cùng.
Nhưng bắn vào lúc này thì thật là liều lĩnh "quá trời".
Trước mắt chúng tôi, chú vượn con lông trắng
ôm trên bụng một vượn cái màu vàng sẫm nằm ngửa bất động bởi một lỗ đạn quá
hiểm, phá toác trên ngực. Cả bọn ào đến
rõ nhanh nhưng rồi khựng lại, ngây người ra, ngỡ ngàng. Vượn mẹ không ôm vết
đau mà lại ôm chặt đứa con trên bụng, không rơi sấp mà nằm ngửa. Phải chăng nó
cố xoay lưng đỡ cho đứa con bé bỏng? Nhìn Vượn sữa chưa thay lông bấu chặt,
nhay nhay cái ti vô cảm kia. Tôi như bị thôi miên bởi ảo ảnh một bé con đang bú
người mẹ đã chết. Thương nó đến lặng người, tôi quên biến mình đang nổi cáu.
-
Thở dài ngán ngẩm, tôi nghĩ: May quá! Vượn con không sao! Có thể vết đạn hiểm
khiến Vượn mẹ không kịp giao con cho bầy đàn trước khi rớt xuống. Nghe nói,
lông vàng là vượn cái thường được cả đàn chăm chút, ưu ái. Khi nó gặp nạn, các
chú vượn đực màu đen nhanh chóng đỡ lấy đứa con, rồi chớp nhoáng giúp nó thoát
hiểm. Đàn vượn núp đâu đó trên cây thi thoảng kéo lá che thân, bất lực, vén ngó
nhìn xuống...
-
Nào buông ra đi! mẹ... không còn sữa đâu! - Vừa nói, tôi vừa gỡ nó ra khỏi mẹ.
Nó níu chặt lắm không chịu buông, miệng kêu chít chít. Tuy không trực tiếp nổ
súng, sao đôi tay vụng về của tôi cứ run run như chính mình có tội. Vừa ra
khỏi mẹ, vượn con vội túm chặt lấy ngực
áo tôi rúc đầu vào nách như cầu cứu. Bối rối - Tôi ôm nó quỳ lặng thinh như
tượng đá... Bóng một phụ nữ ôm con nằm lại... trong đoàn người bồng bế nhau
chạy giặc...cứ hiện ra trước mắt tôi. Dụi sáng đôi mắt tối sầm, gạt mồ hôi vã
ra lấm tấm như bị cảm....
Hiểu thấu lòng tôi, các cậu ấy bới rất nhanh một
cái huyệt! Với cử chỉ ấy, chúng tôi ngầm nói với nhau rằng: Đừng ăn thịt mà hãy
chôn cất mẹ nó tử tế...
...Xong việc, Vượn con bám vai nhóm
Trinh sát lầm lũi ra đi...Bỗng cậu Hiến cất tiếng: Nó mà chu lên thì bỏ mẹ...
- Ừ nhỉ! - Quay lại!... lại
ngay! Nhanh!- Tôi cũng vừa nghĩ đến điều
ấy, để chúng tự tha nhau đi. Sao mình ngu lâu quá vậy - Miệng nói, chân tôi
quay ngoắt trở lại, vừa chạy tôi vừa bực bội với chính mình. Anh em lẽo đẽo
chạy theo. Vội vàng đặt vượn con vào chỗ cũ, chúng tôi ẩn nấp quan sát và nghe
ngóng. Bám cỏ một mình nó bắt đầu kêu... Kêu mãi, kêu hoài, kêu đã lạc cả giọng
mà chẳng thấy Mẹ nó đến cứu.
- Cứ bỏ đấy, chút nữa bọn nó
đến đấy anh ạ!
- Không! Im quá, chúng bỏ đi
hết rồi! nó chết mất! - Sốt ruột, tôi
trả lời. Từ ngày chiến sự tăng lên, bản năng sinh tồn khiến loài thú khôn hơn
rất nhiều. Bầy Voi rừng còn biết nằm im, lấy vòi đắp lá nguỵ trang cho nhau khi
mới chỉ nghe nho nhỏ, tít từ xa tiếng "đầm già" L19. Loài vượn này
chắc chắn còn khôn hơn thế. Không thể chờ thêm được nữa, giành nhau ôm vượn
con, chúng tôi tiếp tục hành quân. Dõi theo từng vòng lượn của máy bay địch
đang lui dần ra hướng lộ 14, chúng lui tới đâu, bọn tôi tiến tới đó. Bám dưới
những gốc cây nắng khô đổ lửa, mồ hôi ngứa ngáy khó chịu, lúc bò, lúc chui, lúc
lội, lúc chạy vượt trảng trống như muốn hụt hơi ... Và chẳng bao lâu đã đến
vùng buộc phải "Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng". Vùng Địch
đang lùng sục. Biệt kích và ổ phục kích nhiều như lá rừng, sự Sống và cái chết
chỉ cách nhau một sợi tóc! Mang theo vượn con là đùa giỡn với tử thần - Tôi
nghĩ vậy. Chân bước, mắt đảo tròn, tai lắng nghe từng tiếng động nhỏ nhưng lòng
phân vân, lo lắng. Không lẽ vất đi? mà đứa nào có gan vất nó?... Nghĩ mãi chẳng
ra, thôi thì mặc kệ! Tới đâu hay đó vậy!...
... Những tia nắng chiều đã
đổ dài bóng cây trên trảng cỏ trước mặt. Cái nóng gay gắt đang nhường chỗ cho
những cơn gió thoảng mát, ngái nồng mùi rừng úa, hoa cỏ dại. Tôi chợt mừng vì
vừa nhận ra đường mòn quen thuộc, nhưng lại giật mình khi thấy dấu giày Biệt
kích mới tinh in trên đất còn hăng mùi cỏ nát. Đồ hộp khui dở đang rỉ từng giọt
nước toả mùi thơm làm chảy nước miếng. Biệt kích vẫn còn đây! - Nghĩ vậy, tôi
khoát tay báo hiệu nguy hiểm. Anh em đồng loạt gạt khoá, sẵn sàng nổ súng. Với
bao thuốc lá dở dưới đất, thì thào: Hút đi! Chúng vừa hút, không sợ lộ mùi đâu!...
Nấp vào từng gốc cây, chúng tôi châm thuốc lấy lại bình tĩnh...
Hải chỉ chỉ vào vượn con
trên ngực tôi, ý nói: Hãy cẩn thận. Tôi ớn quá, nếu nó "toe lên" đúng
lúc đi ngang qua Ổ kích, thì chắc chắn mìn "Claymore" của Địch sẽ
thổi tạt vào sườn và rất có thể sau ánh chớp sáng loà ấy, tất cả chỉ còn là
bóng đen vĩnh viễn.
- Bóp chết nó ư? - Tôi vòng
ngón tay lấy cổ nó dứ dứ làm hiệu hỏi. Nhưng anh em lắc đầu ...
Nằm rạp một lúc lâu nghe
ngóng tình hình... Chúng tôi lại gật gật đầu, đã chết thì cùng chết vậy! Hình
như vượn con cũng linh cảm thấy có biến nên cứ nép mình nằm im trong ngực. Chỉ
vào tay Hải, tôi lắc đầu để cậu ta đóng lại chốt quả Da láng (Lựu đạn Mỹ), chưa
cần thiết, lỡ tay chết cả lũ. Vén cao ống quần báo hiệu trái gài, cảm giác ống
đồng sẽ kịp nhận ra khi chạm vào cái dây gài chết tiệt đó. Thấy ghê ghê, khang
khác thì dừng chân ngay. Nhưng cũng phải gỡ cho thật khéo, nếu không vẫn toi
đấy. Biệt kích Mỹ thường gài pháo hiệu hoặc mìn sát thương bên đường mòn, nằm
phục kích. Đôi khi chúng gỡ bỏ lúc rút đi. Nếu phát hiện sớm, bước chân nhẹ
nhàng, không tiếng động là có thể lọt qua ổ kích mà địch không hay biết gì. Và
có lần thật hú hồn vì vừa qua khỏi thì địch phát hiện đánh mìn, nổ súng sau
lưng.
Vượn con sang lưng Hải để
tôi vượt lên trước. Những lúc căng thẳng đến nghẹt thở, nhịp tim thình thịch
như bật khỏi lồng ngực, anh em trông cậy cả vào những người lâu năm chiến
trường như tôi. Mà nào tôi có hơn gì anh em. Cái mùi vừa khét nhà binh, vừa
thơm đồ hộp của toán Biệt kích phía trước vẫn thi thoảng lọt vào lỗ mũi sau mỗi
cơn gió ngược, tuy làm tôi nuốt nước miếng nhưng vẫn rợn hết cả người. Dấu giày
in trên cỏ còn cho biết có nhiều toán Biệt kích cắt chéo qua đây.
- Bỗng Vượn con kêu
"oé", cả bọn giật thót người nằm rạp nghe động tĩnh. Một hồi khá
lâu... Không thấy gì, tôi ngó về phía Hải. Cậu ta lắc lắc đầu, ra điều không
sao. Có thể căng thẳng, nhỡ tay ôm chặt, nó kêu đó thôi. Toát hết mồ hôi hột.
Hải nhăn mặt hít hít cái mũi thảm hại, bò đến thì thào bên tai tôi: Ướt hết gáy
em rồi! nó cũng sợ vãi tè, anh à!. Giá như giặc không gần thì cười một trận cho
đã...
Vẫn phành phạch tiếng Trực thăng lượn qua đầu
và rì rầm tiếng xe nhà binh ngoài quốc lộ 14. Đôi khi nhìn hành động của Trực
thăng bên trên có thể biết dưới đất chúng đang làm gì. Nhưng làm sao biết được
chúng kéo dài cuộc hành quân đến bao lâu nữa?
Tạm dừng một lát, thì thào
với anh em một số điều cần thiết và trường hợp "nếu buộc phải nổ súng, tứ
tán đội hình...thì tập kết về giao điểm hai con suối đằng sau", rồi lại
tiếp tục lần theo dấu vết Biệt kích mỗi lúc mỗi dày đặc hơn. Tay
ngoặc trong cò súng, lưng khom như cò lội nước, rón rén tránh cành, lá khô,
từng bước tiến về phía trước. Mỗi tiếng động nhỏ phải nằm xuống nghe ngóng bởi đó
là tín hiệu của "cái chết"... Đã thấy mái lợp kiểu "quân
ta" ở trước mặt (căn cứ của một đơn
vị du kích nào đó). Tất cả rút chốt "Da láng" nằm im, lắng tai
những động tĩnh bên trong... Im lặng dễ sợ... Cứ thế lết dần từng chút. Đồ Biệt
kích lác đác xung quanh khoảng năm chiếc hầm thùng có lợp nóc nhưng không có vỏ
đạn. Theo dấu vết để lại thì họ bị động sơ tán đi vội vàng. Sau đó Địch đã vào
đây phục kích khá lâu nhưng không gặp đối thủ. Nếu đến đúng lúc ấy thì chín
phần máu sẽ đổ! Có thể chúng vừa đi khỏi đây? Phải chăng Vượn con đã kéo chúng
tôi chậm lại một chút? Mất mát lắm, rủi ro nhiều khiến bọn tôi tư duy như những
kẻ mê tín dị đoan vậy. Lại nhớ chuyện mới hôm kia, khởi hành khỏi đơn vị chưa
lâu đã gặp một chú Rùa bò lên rừng đẻ trứng. Không chừng xúi quẩy, chuyến này
đụng "Tăng quỳ". Tạm dừng thịt chén giải vía cái đã rồi mới đi...
- Miệng nịnh, tay tôi chuyển Vượn con cho
Hải... Anh em sửa soạn nấu bữa tối dưới hầm thùng... Quyết định chốt lại đây
qua đêm. Xong xuôi, tôi mắc võng xong, ngả lưng và bây giờ mới có thời gian
vuốt ve nó. Mà lạ thay, nó hết sợ và bắt đầu nghịch ngợm, ngoáy mũi, sờ tai,
túm tóc. Hình như nó đang xoa dịu nỗi đau của tôi đang nghĩ về 8 chiến sỹ mất
tích, ai còn, ai mất, ai bị bắt, ai quyết tử để Tổ quốc quyết sinh, ai không
chịu nổi đòn thù tra tấn? Vì sao căn cứ của chúng tôi bị lộ?...Cảnh giác để đâu
mà mất thế chủ động này? Cứ tự hỏi mình vòng vo tam quốc vậy mà chưa có đáp số
nào...Muốn làm rõ thì chỉ còn trông cậy
vào đội Du kích Phước sang, chú năm Phạm, anh Tư Cường và... Hai năm nay Tư Cường
như con thoi, đưa chúng tôi khắp các bãi trảng chọn từng vị trí đặt pháo, canh
chừng để chúng tôi đo đạc tính toán toạ độ bắn, cung cấp thông tin Mục tiêu,
bám chốt Mỹ lấy thực phẩm lót lòng. Đôi lúc mệnh lệnh của anh có sức mạnh hơn
Thủ trưởng của tôi. Nhớ lúc Con gái anh tròn xoe đôi mắt nhìn không chớp mấy
chú "Việt cộng" (lúc bà con bị lạc trong rừng “Ruốc cá”). Có
lẽ cháu chưa một lần nhìn thấy Bố đang cộng tác với “ViCi” đáng sợ nhưng lại
đẹp trai, hiền khô, dễ thương thế kia. Lớn quá! Đáng ra mình phải gọi Tư bằng
chú mới phải đạo ... Cô gái chớp chớp đôi
mắt đỏ hoe... Bà con đi cùng bạo gan hỏi: Mấy ảnh... là "Giệc cổng"
sao?... Địch dọa để dân sợ "Giệc cộng", còn tôi chỉ biết chờ hai cha
con trao đổi tình cảm xong là bảo Hải đưa họ ra ven lộ về Ấp. Khuôn trăng tròn
ngấn lệ khuất dần sau gốc Săng lẻ còn đọng lại cảm thương trong tôi cho đến mãi
bây giờ. Anh Tư tâm sự với chúng tôi về sự chia ly tan tác của gia đình anh...
và Chiến tranh đã làm anh đớn đau đến là vậy...
Bằng mọi cách chúng tôi phải tìm Anh, người Du
kích mưu trí, linh hoạt, gan góc và dũng cảm ấy! Tìm nhanh để còn nhờ chăm sóc
vượn con này nữa chứ. Màn đêm xua dần cái nóng nực ban ngày, không gian đã dịu
mát, quanh đây thứ hoa dại nào nở về đêm, hương thơm thoang thoảng dễ chịu. Mệt
mỏi, tôi thiếp đi lúc nào không hay... Vượn con rúc vào gặm mút trong ngực gây
nhồn nhột làm tôi tỉnh giấc. Cái mùi hoang dã của nó lúc này mới thấy hôi làm
sao. Tôi mặc kệ bởi nghĩ mình có thơm tho gì hơn đâu...vuốt ve vài cái rồi lại
lơ mơ suy tính...
... Có lẽ đói, chú ta bắt
đầu lên tiếng. Mới đầu chỉ là những tiếng "ngoe" thưa thớt nhưng càng
về khuya tiếng kêu càng the thé, càng dồn dập. Tiếng kêu như nức nở, hờn giận,
oán trách và căm thù hành động sáng nay của những kẻ đã nổ súng hạ mẹ nó. Màn
đêm hồi ấy vẫn thường làm những "Việt cộng" gan cóc tía cảm thấy tự
do, sảng khoái và dễ chịu hơn ban ngày. Nhưng sao đêm nay nghe lành lạnh, ghê
ghê, rờn rợn cứ như hồn Mẹ nó hiện về bám theo lẩn quất đâu đây. Tiếng khóc của
đứa con mất mẹ đau nhói lòng người! Âm thanh ấy đánh thức trong tôi một miền
quê nào đó vừa quen, vừa lạ. Phải rồi! Xóm trại, tiếng trẻ khát sữa hờn đêm...
Moi túi 8 thứ lấy gói Milk (đồ biệt kích Mỹ) quậy nước cho nó uống và
động viên anh em cố chịu đựng đêm nay, hình như Biệt kích rút rồi. Vượn con chỉ
chóp chép một chút rồi lại gào tiếp, làm rối tung, rối mù cả lên. Vất bỏ thì sợ
Chồn đất làm thịt nó, còn để lại mà chẳng may quanh đây có Biệt kích hoặc
"Cây nhiệt đới" phát tín hiệu thì chắc chắn chúng tôi phải trả giá
bằng mạng sống của chính mình. Nhưng chẳng có một giải pháp nào hay hơn bởi vẫn
chỉ là "tội nghiệp nó mà". Tôi lấy mũ bọc nó đặt xuống hầm cho nó ấm
hơn và để cái âm thanh dễ lộ ấy đỡ vang xa. Một lúc sau, tiếng kêu lịm dần...
Chúng tôi cũng lịm theo ...vì cũng "Bết" lắm rồi!
- Có tiếng sẹt...ầm! Trái
Đại bác địch nổ văng mảnh soàn soạt quanh đây. Tiếng nổ to thế mà chú nhóc
không phản ứng gì? Có lẽ sinh ra trong bom đạn, bản năng sinh tồn buộc nó tự
biết im lặng hay vì kiệt sức sắp chết rồi?...Cứ mơ mơ, tỉnh tỉnh cho đến
khi...Có tiếng thì thào bên tai: Nó còn sống anh à! em vừa cho uống sữa, uống
nhiều lắm, đái ướt hết rồi...Tôi choàng tỉnh nhao vội xuống. Nó còn sống
thật!...cởi áo đắp thêm và yên tâm nói: Các cậu
yên tâm ngủ đi! pháo bắn gần, chắc chắn "Tụi nó" không ở quanh
đây! Sáng dậy sớm...tính sau!...
...Màn đêm chốc lát lại có
những tiếng động làm giật mình. Thì ra các cậu ấy không ngủ, cứ ngoi lên, thụt
xuống chăm nó.
- Cậu Hiến vừa chui lên vừa
lẩm bẩm: D.Mẹ...chưa biết mùi đàn bà đã phải nuôi con nhỏ! Tìm anh Tư đâu bây
giờ đây...con ơi…
- Vâng đúng rồi, tôi vẫn
biết là phải tìm ngay Tư Cường, nhưng khốn nỗi ban ngày tìm còn khó nữa là đêm
tối giặc giã thế này. Chờ tìm được Anh, chắc gì Vượn con còn sống? Hết cách
rồi! chỉ còn biết thao thức chờ sáng. Chưa khi nào chúng tôi lại mong trời
nhanh sáng như đêm nay. Cầu trời trận càn chiều nay đã kết thúc để ngày mai Dân
Be được vào rừng...gửi họ nuôi "Bé".
Tờ mờ sáng hôm sau, bốn đứa đã nấp sẵn ở bụi
cây ven lộ 14 chờ đợi. Cũng thật là sốt ruột! Chờ mãi không thấy gì. Cũng không
có dấu hiệu địch mở trận càn mới nên chúng tôi vẫn kiên trì ...
- Có thể bị “thọc đũa từng lon huygo*
cơm", nên họ ra trễ đó thôi - Cứ đoán già đoán non như vậy...
- Kia rồi...! Chiếc xe be đầu tiên chấp
chới xa xa, mừng hơn mẹ về chợ! Vượn con sống rồi! Nhanh lên chút nữa bà con
ơi! Tôi nói cậu Hiến khéo mồm! Chuẩn bị năn nỷ đi!...Thật khéo để người ta nhận
nuôi nó!...
...Nó bị đói! lần sau các chú phải ôm
nó ngủ chung nhé - Họ nói thế. Nghĩ bụng làm gì còn lần sau nữa, bọn tôi sợ hết
đời rồi! Chắc các bạn cũng giận chúng tôi lắm? Nhưng mà thôi! tha thứ đi, Chiến
tranh mà!...Sau mấy lời năn nỷ:
- Ừ! mấy chú để tôi ... nếu
sống... về được Sài gòn cũng bộn tiền đây! - Miệng nói, tay ôm, chưa gì người
ta đã vội vàng quay đi. Chúng tôi nhìn theo người đàn ông làm "Be" xa
dần và bắt đầu thấy nhớ... Thế là cuối cùng, đã gửi được vượn con cho một người
không quen biết. Biết họ có quý nó không?...
...Bầy vượn đăm đăm nhìn tôi
trên kia, biết đâu chẳng là con cháu của chú Vượn trắng gửi nuôi năm ấy?...
- Ông làm sao đấy? - Tiếng
gọi giật giọng của bà xã. Vươn vai, vặn mình, hít một hơi thật dài như vừa tỉnh
cơn mê... tôi nói:
- Để tôi kể mình nghe…
nhé...
Đức Long
Hát cho vui nào! - Đồng đội ơi!
Chủ Nhật, 9 tháng 3, 2014
09.Cô gái tìm cha (2001) - Tự truyện của Đức Long
09.Cô gái tìm cha (2001)
... Thưa chú! Có phải trước đây chú là bộ đội?...
- Vâng! Đúng
- Của tiểu đoàn K33? Tiếng K33 làm tôi như điện giật bởi quá khứ hào hùng và thương đau của nó.
- Vâng đúng thế! Vậy có việc gì thế?... câu chuyện kéo dài dài… nhưng thôi để khi nào gặp nhé…
Tới một ngày ... Một phụ nữ trạc tuổi ba mươi? đôi mắt to, lạ mà như quen bước vào, lễ phép chào : Thưa chú , cháu là Phương Lan con gái liệt sỹ Nguyễn Anh Cường!
Ðôi mắt ...vâng ! chính đôi mắt ... Bất giác trong tôi một hình tượng quá khứ hơn ba mươi năm trước. Chính trị viên trưởng Tiểu đoàn Nguyễn Anh Cường nhìn tôi, đôi mắt to và sáng, nước da trắng trẻo, mái tóc ngôi lệch lúc nào cũng gọn gàng, nói năng tế nhị, lịch thiệp và có duyên với phụ nữ ... Anh vẫn thường vui vẻ nói con gái anh mới hơn một tuổi xinh lắm, đứa nào đánh giặc giỏi về, tớ gả con gái cho. Anh là sỹ quan được đào tạo bài bản từ Liên xô về và ngay lập tức chỉ huy Tiểu đoàn mới thành lập của tôi vào chiến trường, giữa lúc hơn năm mươi vạn quân.... Mỹ đổ vào miền nam.
Lại thoáng trong tôi, hình bóng anh lần cuối tại vị trí tập kết, khi tôi vừa trên đài quan sát về. Trong ánh đèn pin loang loáng, bên anh là, Cẩm trinh sát viên và Ðiểm công vụ, đang hối thúc đoàn quân khẩn trương chiếm lĩnh trận địa.... Trong trận đánh ấy (tháng 8 năm 67), Căn cứ Mỹ ở Lệ thanh bốc cháy, nổ tung. Nhưng, Anh không về nữa.
... Suy nghĩ miên man một lúc, bỗng tôi ngắt lời : nhưng mà lâu quá rồi, sao bây giờ cháu mới đến? ...Người con gái rơm rớm nước mắt kể. Tôi nghe lịch sử gia gia đình, về bà, bố, mẹ, tin sét đánh từ chiến trường bay về, quá trình lặn lội tìm Bố lúc Tây nguyên đang còn Phulrô quấy rối. Và cuối cùng, phải nhờ đến ngoại cảm, tâm linh. Tuy vậy vẫn lơ mơ không rõ chốn nào - nghẹn ngào cứ thế kể... Còn tôi, cứ theo lời kể mà hình dung lại quá trình về phép gặp anh lên Ðại từ - Thái nguyên thăm nơi Mẹ và cháu cùng trường Ðại học sư phạm đi sơ tán máy bay Mỹ. Rồi cùng anh hành quân dọc Trường sơn, anh mang sắn lùi đến tận nơi, khí tôi ăn như dụ dỗ trẻ nít, lúc tôi vừa qua cơn sốt rét hiểm nghèo. Những ngày chúng tôi mạo hiểm bắt cá ngáp trên sông Se san. Anh mắng chúng tôi về ngay. Chưa đánh trận nào mà bị cá đâm chết thì thật là nhục. Rồi quá trình hành quân ra trận, khói lửa trận mạc, cho đến lúc anh bị thương và hy sinh.
Cháu đã tìm ở đâu ? - Tôi ngắt lời. Lần lượt trình bày những tin tức nghe được, những người đã gặp, những nơi đã đến... Đấy là trận đầu đánh Mỹ và cũng là cuối cùng đối với anh. Vâng, nhưng với tôi sau "Lệ thanh" còn những năm dài vật lộn với cái đói và lạnh, với chất độc hoá học và nhiều trận đánh khó khăn, ác liệt. Rồi hoà bình thống nhất, tôi mang vết thương thập tử nhất sinh vào cuộc sống mới, thời kỳ Mỹ cấm vận đầy thiếu thốn, liệu tôi còn nhớ trận đầu tiên ấy không?
- Tôi nói : Trong đời lính, chú chỉ làm trinh sát cho đến ngày thống nhất đất nước. Cuối cùng, chú bị thương chỉ còn lại một chân. Trận cùng Bố cháu được chuẩn bị khá kỹ nhưng tổn thất khá đau. Có thể kỹ năng đối khớp thực địa với bản đồ của chú khá tốt, nên chúng ta hy vọng tìm ra điểm ấy trên bản đồ trước đã. Nhưng "Lệ thanh" do ai đặt tên và nó có tên trên bản đồ hay không ... Chú xin khất để có thời gian nhớ lại từng chi tiết nhỏ của trận đánh ấy...Với sự giúp đỡ của bạn bè và đồng đội có tâm huyết, tôi cũng có được tấm bản đồ quân sự cũ và nhờ nó mà suy đoán. Hoá ra trước đây gia đình cháu đi tìm đều nhầm cả.
Lệ thanh và cầu Lệ thanh chỉ là cái tên do bộ đội ta tự đặt ra, nó nằm ở tỉnh, huyện, xã nào thì mỗi người nói một nẻo, người nói ra Kontum, Ðắc tô Tân cảnh, người nói vào Pleiku, thậm trí có người còn chỉ thẳng vào Daklac cách đó hơn 200 cây số. Nhưng tôi nhớ không lầm, Pháo 105 của địch ở Ðức cơ tầm bắn chỉ 10 cây số còn với tới đầu chúng tôi trong lúc điều nghiên trận địa. Vậy thì, Ðức cơ mới đúng là vùng đất Bố cháu hy sinh. Tôi reo lên : Ðây rồi ! sân bay Ðức cơ bỏ hoang cạnh đường 19. Chỉ là trên bản đồ mà tôi đã xúc động đến vậy, phải chăng những đường bình độ chi chít trên đấy đã kích hoạt trong đầu tôi một địa hình lắng đọng từ lâu.
Thế là, trong cái bộn bề, hối hả mưu sinh, cái đã quên khơi khơi khơi trở lại. Từ Ðức cơ và mục tiêu, chúng tôi chiếu phương vị để tìm ra khu vực trận địa trên bản đồ. Sau đó, tôi cùng cháu đi tìm những chiến sỹ còn sót lại của thời kỳ ấy. May mắn, gặp được một số người: Tiểu đoàn trưởng Hoàng Xuân Liên ở Gia lâm Hà nội, Trinh sát viên Nhữ Quang Nhu ở Nho quan Ninh bình, Ninh Trọng Oánh ở trực ninh Nam định và một số anh em khác ở Hà tây, Hà Bắc v.v.. để hỏi thêm. Xác định lại vùng trận địa nói trên và tìm kiếm thêm thông tin về địa điểm chôn cất Bố cháu.
Tìm và trao đổi qua điện thoại với số anh em ở lại Sài gòn, Ðà lạt sau giải phóng : Phạm Sỹ Cát và Trần Thịnh cùng một số anh em khác nói sẵn sàng ngược ra Tây nguyên hợp sức khi được gọi. Rồi thật không may là khi tìm được địa chỉ, liên lạc với người chỉ huy giải quyết hậu quả trận đánh hôm đó, Chính trị viên phó tiểu đoàn Vũ Trọng Lượng ở Sài gòn, thì Ông đã già, mất năm ngoái rồi. Thôi !... đành lần mò từng bước vậy.
Trung đội trưởng pháo Nguyễn Ninh Oánh nhớ lại: lúc đó tôi bị thương ở kheo và được dìu đi bên cáng của Anh Cường, Ông bị mất một cánh tay, nằm trên cáng vẫn động viên anh em " không được khóc, ảnh hưởng đến tinh thần anh em khác..." khoảng nửa giờ đồng hồ trên đường rút về vị trí tập kết thì tắt thở và được táng tại hầm chỉ huy của ông Ðức cụt, trên ngực đặt chiếc đồng hồ Liên xô, tư trang cá nhân có khắc tên con gái Phương lan. Trung tướng Lê Ðức nhớ lại, sau khi lệnh cho rút khẩn trương số anh em không cần thiết phải ở lại đấy, số còn lại buộc phải rút lên 705.. Tay ông chỉ vào bản đồ và nói tiếp: chừng chưa đầy 2 tiếng đồng hồ đã nghe đụng độ, súng nổ, Biệt kích Mỹ trên những cao điểm gần đã tràn vào đọ súng và hô hoán vang cả khu rừng dưới đó rồi. Theo tôi, Trong vòng 2 tiếng đó, Anh Cường đã được táng tại đây. Vị trí ấy, chính là khu tập kết chuẩn bị điều nghiên của tốp trinh sát từ nửa tháng trước. Tôi đã xác định lên bản đồ làm tài liệu gửi vào Gia lai đi tìm cái hầm đó. Mênh mông rừng núi nên phải kiểm tra trên thực địa có thấy vật chuẩn không đã. Nếu không thấy vật chuẩn, thì đừng tìm chi cho mất công - Tôi nói.
Ngày 21 tháng 12 năm 2000, Ðồng chí Lê Kim tuyến nguyên Kế toán -Trinh sát tiểu đoàn, hiện đang nghỉ hưu và sống ở Giao thanh, Giao thuỷ Nam định cùng một số anh em khác lên đường vào Tây nguyên kiểm tra vật chuẩn duy nhất trên thực địa. Thật may mắn; Vật chuẩn "Khối đá vát khổng lồ", nơi tôi cùng Nhữ Quang Nhu và Ðào Xuân Long trèo lên quan sát vẫn còn sừng sững như một toà nhà nằm đó. Chúng tôi mừng lắm và riêng tôi không nén nổi xúc động khi nhìn trên màn hình. Chính nó, hơn 30 năm trước suýt nữa chết khi bò lên quan sát trận địa pháo địch bên cầu Lệ thanh. Như vậy có cơ sở để tìm ra cái hầm chỉ huy cách đó không xa.
Thế là cháu tất bật chuẩn bị hồ sơ gửi vào tỉnh đội Gia lai. Càng nhìn cháu, tôi càng nhớ Anh Cường. Lòng quyết tâm tìm Cha của người con gái chân yếu tay mềm ấy là nét đẹp với tôi, mang lại cho tôi niềm vui cuộc sống. Những Người lính chiến năm xưa không còn thấy tủi thân cho những ngày thiếu cơm, đói muối, đắp chăn, bón cháo cho nhau trong suốt chặng đường hành quân đi đánh giặc. Cho dù hài cốt còn, hay đã về với đất, thì Anh Cường nơi chín suối chắc hẳn sẽ vui lòng và chúng tôi, những người lính còn sống đến hôm nay phần nào được an ủi... Có thể vui lắm mà nói rằng: cô bé ấy bỗng đưa tôi sống lại tuổi đôi mươi, tuổi của những ngày xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước. Lúc chúng tôi lên đường, cháu mới tròn một tuổi, sức mạnh nào đã giúp cháu nhớ Cha đến vậy ? Phải chăng Bà nội, người Mẹ liệt sỹ ? Bằng ấy năm mòn mỏi vẫn chẳng đêm nào giám gài then cửa, cho nó về còn đẩy, mở cho nhanh đã in sâu vào tình cảm của cháu, truyền cho cháu một sức mạnh để một lần nữa, cháu lại lên đường vào vùng đất hoang vu tìm cha mình.
* 23/4/01 có tin, tỉnh đội Gia lai gọi ra thông báo kết quả chuyến đi 3 ngày của đội trinh sát có đồng bào địa phương đẫn đường theo tài liệu gửi vào. Một phát hiện là khu vực ấy là có thật nhưng là vài chục cái hầm chứ không phải trên dưới 10 chiếc như tôi nhớ. Có thể lúc vào trận, công binh ta đào thêm chăng? Người dẫn đường nói, trước đây khoảng 10 năm có vào đây đào bới tìm kiếm cát tút đạn và phế liệu chiến tranh để bán thì không ngờ bới được một bộ xương ở độ sâu khoảng một mét, thấy vậy họ hoảng sợ và bỏ luôn cho đến bây giờ. Cho dù gia đình vào không kịp, tỉnh đội vẫn tiến hành khai thác theo kế hoạch. Niềm vui và hy vọng lại một lần nữa được nhân lên gấp bội. Cháu cuống cuồng, còn tôi cũng vội vàng ba lô, thuốc men sẵn sàng để lên đường. Nhưng...có lẽ Vết thương của tôi... không cho tôi đi trong tình huống vội vàng, gấp gáp thế. Tôi mang tin mừng đến báo cáo hội Bạn chiến đấu K33 họp ở Làng Chuông Thanh oai Hà tây vào đúng dịp 30 tháng 4. Buổi gặp mặt năm ấy (2001), có lẽ đã hướng phần lớn sự chú ý vào những cú điện thoại và từng bước chân ngoài vùng phủ sóng của cô gái nhỏ đang trên đường lên cao nguyên nắng gió. Thiếu tướng Thành Lai, sau khi xem đoạn băng quay tảng đá từ hai phía, ông nhận ra: chính ông lưỡng lự, cực chẳng đã mới phải chọn nó làm đài quan sát phụ bởi nó chênh vênh nguy hiểm quá chừng. Niềm tin được củng cố, tôi thầm gọi: Con gái ơi! hãy gắng lên lần nữa, lần này nữa thôi may mắn tìm được cha mình.
* Ðầu tháng 5/ 2001 vào lúc mà người ta vui vẻ, áo quần đẹp đẽ dạo phố mừng ngày toàn thắng 30/4 và quốc tế lao động 1/5, thì tại một vùng cao nguyên hoang vu trong nắng chói chang, khô rát, một lần nữa, cô gái Hà nội bé nhỏ ấy đang ba lô, cơm lá chuối, nước suối phèn trên vùng Cúc quý khô vàng rực tìm cha mình.
Ðội quy tập tỉnh đội Gia lai ra sức đào bới tại chiếc hầm to, có dáng dấp hầm chỉ huy trong một loạt hầm ở khu đó. Bên trên vùi lấp, toàn là đồ biệt kích Mỹ và dưới độ sâu hơn 2 mét, thấy mẩu Tăng ny lon quân dụng Miền bắc ( Tăng là tấm nóc che mưa cho chiếc võng cá nhân lúc còn sống và cũng là tấm vải liệm, chiếc quan tài cho giấc ngủ ngàn thu lúc hy sinh), mọi người oà lên khóc, tiếp tục đào bới đến cùng và sang các ngách hầm phụ kế bên. Ngoài đồ biệt kích Mỹ và một số vật chứng của quân ta như vỏ liều phóng DKB hoen rỉ ở lớp đất bên trên, vẫn không thấy thêm gì nữa. Cả nhà lại oà khóc lần thứ hai - Nghe đến đây, không nén nổi xúc động, tôi lặng đi trong giây lát và như không còn nghe thấy những gì cháu nói tiếp nữa. Bức ảnh chụp toàn cảnh nơi tìm thấy mẩu Tăng, làm tôi như bị thôi miên vào một vùng kỷ niệm xa xưa ấy. Và sự băn khoăn: liệu Bố cháu có bị Biệt kích Mỹ chuyển nơi khác? Hay là sau khi bới được, chúng đã "tiễn" ông lên trời rồi?.
Tuy chưa đưa được hài cốt về nhưng hồn anh đã về với mỗi chúng tôi, đã về với Mẹ già, với gia đình và nhất là với Cô bé mà Anh đã khắc tên trong giây lưng như bồng con xung trận năm nào. Cháu đã đến được chính mảnh đất Bố mình đánh giặc rồi.
Sau đây là vài dòng ghi nhanh của cháu trên trận địa năm xưa vào phút thất vọng trước khi quay về, như bài điếu bộc bệch nỗi lòng mình với người Cha thân yêu còn nằm lại nơi cao nguyên núi rừng trùng điệp ấy.
Tạm đặt tên cho những lời bộc bạch ấy là " Bình độ 500 - con gái tìm cha" để các bạn cùng nghe:
Bình độ 500 - con gái tìm cha
Con tìm đến đây như trở lại nhà mình
Nào đỉnh 500, Pôcô, Chư pảh
Những tên sông, tên rừng, tên đất
Thành thân quen với con tự bao giờ
Ba mươi mấy năm vằng vặc nỗi mong chờ
Bà vẫn đợi một bàn tay gọi cửa
Vẫn không tin Bố chẳng quay về nữa
Gấp khăn trắng cất đi mẹ ngùi ngậm sang đò
Vẫn trong con thấp thỏm một nỗi niềm
Một tên đất mơ hồ trong nỗi nhớ
Một ngọn núi, một cánh rừng , dòng suối
Bao năm rồi hồi hộp trở về đây
Mặt trời của con đã lặn dưới đất này
Rừng thăm thẳm mắt bố nhìn lần cuối
Qua kẽ lá màu trời xanh vời vợi
Ngỡ ngày về đang ru con trên tay
Ôi đã từng đẫm ướt dưới chân con
Những giọt máu của biết bao người lính
Và dưới đất còn bao người đang nghỉ
Con bước khẽ khàng sợ đồng đội Bố đau
Bố ngã xuống đổi lấy ánh ngày
Cho con sống những ngày đáng sống
Cho con lớn vượt nhọc nhằn hờn tủi
Ba mươi mấy năm gian khó cuộc đời này
Những ước mơ, những công việc, những con đường
Tuổi trẻ, khát khao, tình yêu chưa sống hết
Con thay Bố đi tiếp phần bỏ dở
Niềm tự hào rạng rỡ ánh mắt con
Dẫu Bố ơi chưa đưa được Bố về
Mặt đất rộng bàn tay con nhỏ bé
Ôi thịt xương xưa hóa rừng hóa đất
Bố đã thành đất nước ở trong con
Con đi tìm giữa cao nguyên mênh mông
Ðất đỏ xẫm dưới chân và trên đầu mây trắng
Máu thịt của con còn nằm trong đất
Ðêm đêm vẫn về thức dậy trong con
Những tên rừng, tên đất, tên sông
Những Tân thanh, Chư Prông, Chư Pah
Một nhành cây, một con đường ngọn cỏ
Con đi tìm mải miết dấu vết xưa
Bố nằm đâu giữa cao nguyên mênh mông
Bạt ngàn gió hoa Cúc quỳ vàng rực
Chẳng xa lạ dẫu lần đầu mới đến
Con đã thương đất ấy tự bao giờ
... Thưa chú! Có phải trước đây chú là bộ đội?...
- Vâng! Đúng
- Của tiểu đoàn K33? Tiếng K33 làm tôi như điện giật bởi quá khứ hào hùng và thương đau của nó.
- Vâng đúng thế! Vậy có việc gì thế?... câu chuyện kéo dài dài… nhưng thôi để khi nào gặp nhé…
Tới một ngày ... Một phụ nữ trạc tuổi ba mươi? đôi mắt to, lạ mà như quen bước vào, lễ phép chào : Thưa chú , cháu là Phương Lan con gái liệt sỹ Nguyễn Anh Cường!
Ðôi mắt ...vâng ! chính đôi mắt ... Bất giác trong tôi một hình tượng quá khứ hơn ba mươi năm trước. Chính trị viên trưởng Tiểu đoàn Nguyễn Anh Cường nhìn tôi, đôi mắt to và sáng, nước da trắng trẻo, mái tóc ngôi lệch lúc nào cũng gọn gàng, nói năng tế nhị, lịch thiệp và có duyên với phụ nữ ... Anh vẫn thường vui vẻ nói con gái anh mới hơn một tuổi xinh lắm, đứa nào đánh giặc giỏi về, tớ gả con gái cho. Anh là sỹ quan được đào tạo bài bản từ Liên xô về và ngay lập tức chỉ huy Tiểu đoàn mới thành lập của tôi vào chiến trường, giữa lúc hơn năm mươi vạn quân.... Mỹ đổ vào miền nam.
Lại thoáng trong tôi, hình bóng anh lần cuối tại vị trí tập kết, khi tôi vừa trên đài quan sát về. Trong ánh đèn pin loang loáng, bên anh là, Cẩm trinh sát viên và Ðiểm công vụ, đang hối thúc đoàn quân khẩn trương chiếm lĩnh trận địa.... Trong trận đánh ấy (tháng 8 năm 67), Căn cứ Mỹ ở Lệ thanh bốc cháy, nổ tung. Nhưng, Anh không về nữa.
... Suy nghĩ miên man một lúc, bỗng tôi ngắt lời : nhưng mà lâu quá rồi, sao bây giờ cháu mới đến? ...Người con gái rơm rớm nước mắt kể. Tôi nghe lịch sử gia gia đình, về bà, bố, mẹ, tin sét đánh từ chiến trường bay về, quá trình lặn lội tìm Bố lúc Tây nguyên đang còn Phulrô quấy rối. Và cuối cùng, phải nhờ đến ngoại cảm, tâm linh. Tuy vậy vẫn lơ mơ không rõ chốn nào - nghẹn ngào cứ thế kể... Còn tôi, cứ theo lời kể mà hình dung lại quá trình về phép gặp anh lên Ðại từ - Thái nguyên thăm nơi Mẹ và cháu cùng trường Ðại học sư phạm đi sơ tán máy bay Mỹ. Rồi cùng anh hành quân dọc Trường sơn, anh mang sắn lùi đến tận nơi, khí tôi ăn như dụ dỗ trẻ nít, lúc tôi vừa qua cơn sốt rét hiểm nghèo. Những ngày chúng tôi mạo hiểm bắt cá ngáp trên sông Se san. Anh mắng chúng tôi về ngay. Chưa đánh trận nào mà bị cá đâm chết thì thật là nhục. Rồi quá trình hành quân ra trận, khói lửa trận mạc, cho đến lúc anh bị thương và hy sinh.
Cháu đã tìm ở đâu ? - Tôi ngắt lời. Lần lượt trình bày những tin tức nghe được, những người đã gặp, những nơi đã đến... Đấy là trận đầu đánh Mỹ và cũng là cuối cùng đối với anh. Vâng, nhưng với tôi sau "Lệ thanh" còn những năm dài vật lộn với cái đói và lạnh, với chất độc hoá học và nhiều trận đánh khó khăn, ác liệt. Rồi hoà bình thống nhất, tôi mang vết thương thập tử nhất sinh vào cuộc sống mới, thời kỳ Mỹ cấm vận đầy thiếu thốn, liệu tôi còn nhớ trận đầu tiên ấy không?
- Tôi nói : Trong đời lính, chú chỉ làm trinh sát cho đến ngày thống nhất đất nước. Cuối cùng, chú bị thương chỉ còn lại một chân. Trận cùng Bố cháu được chuẩn bị khá kỹ nhưng tổn thất khá đau. Có thể kỹ năng đối khớp thực địa với bản đồ của chú khá tốt, nên chúng ta hy vọng tìm ra điểm ấy trên bản đồ trước đã. Nhưng "Lệ thanh" do ai đặt tên và nó có tên trên bản đồ hay không ... Chú xin khất để có thời gian nhớ lại từng chi tiết nhỏ của trận đánh ấy...Với sự giúp đỡ của bạn bè và đồng đội có tâm huyết, tôi cũng có được tấm bản đồ quân sự cũ và nhờ nó mà suy đoán. Hoá ra trước đây gia đình cháu đi tìm đều nhầm cả.
Lệ thanh và cầu Lệ thanh chỉ là cái tên do bộ đội ta tự đặt ra, nó nằm ở tỉnh, huyện, xã nào thì mỗi người nói một nẻo, người nói ra Kontum, Ðắc tô Tân cảnh, người nói vào Pleiku, thậm trí có người còn chỉ thẳng vào Daklac cách đó hơn 200 cây số. Nhưng tôi nhớ không lầm, Pháo 105 của địch ở Ðức cơ tầm bắn chỉ 10 cây số còn với tới đầu chúng tôi trong lúc điều nghiên trận địa. Vậy thì, Ðức cơ mới đúng là vùng đất Bố cháu hy sinh. Tôi reo lên : Ðây rồi ! sân bay Ðức cơ bỏ hoang cạnh đường 19. Chỉ là trên bản đồ mà tôi đã xúc động đến vậy, phải chăng những đường bình độ chi chít trên đấy đã kích hoạt trong đầu tôi một địa hình lắng đọng từ lâu.
Thế là, trong cái bộn bề, hối hả mưu sinh, cái đã quên khơi khơi khơi trở lại. Từ Ðức cơ và mục tiêu, chúng tôi chiếu phương vị để tìm ra khu vực trận địa trên bản đồ. Sau đó, tôi cùng cháu đi tìm những chiến sỹ còn sót lại của thời kỳ ấy. May mắn, gặp được một số người: Tiểu đoàn trưởng Hoàng Xuân Liên ở Gia lâm Hà nội, Trinh sát viên Nhữ Quang Nhu ở Nho quan Ninh bình, Ninh Trọng Oánh ở trực ninh Nam định và một số anh em khác ở Hà tây, Hà Bắc v.v.. để hỏi thêm. Xác định lại vùng trận địa nói trên và tìm kiếm thêm thông tin về địa điểm chôn cất Bố cháu.
Tìm và trao đổi qua điện thoại với số anh em ở lại Sài gòn, Ðà lạt sau giải phóng : Phạm Sỹ Cát và Trần Thịnh cùng một số anh em khác nói sẵn sàng ngược ra Tây nguyên hợp sức khi được gọi. Rồi thật không may là khi tìm được địa chỉ, liên lạc với người chỉ huy giải quyết hậu quả trận đánh hôm đó, Chính trị viên phó tiểu đoàn Vũ Trọng Lượng ở Sài gòn, thì Ông đã già, mất năm ngoái rồi. Thôi !... đành lần mò từng bước vậy.
Trung đội trưởng pháo Nguyễn Ninh Oánh nhớ lại: lúc đó tôi bị thương ở kheo và được dìu đi bên cáng của Anh Cường, Ông bị mất một cánh tay, nằm trên cáng vẫn động viên anh em " không được khóc, ảnh hưởng đến tinh thần anh em khác..." khoảng nửa giờ đồng hồ trên đường rút về vị trí tập kết thì tắt thở và được táng tại hầm chỉ huy của ông Ðức cụt, trên ngực đặt chiếc đồng hồ Liên xô, tư trang cá nhân có khắc tên con gái Phương lan. Trung tướng Lê Ðức nhớ lại, sau khi lệnh cho rút khẩn trương số anh em không cần thiết phải ở lại đấy, số còn lại buộc phải rút lên 705.. Tay ông chỉ vào bản đồ và nói tiếp: chừng chưa đầy 2 tiếng đồng hồ đã nghe đụng độ, súng nổ, Biệt kích Mỹ trên những cao điểm gần đã tràn vào đọ súng và hô hoán vang cả khu rừng dưới đó rồi. Theo tôi, Trong vòng 2 tiếng đó, Anh Cường đã được táng tại đây. Vị trí ấy, chính là khu tập kết chuẩn bị điều nghiên của tốp trinh sát từ nửa tháng trước. Tôi đã xác định lên bản đồ làm tài liệu gửi vào Gia lai đi tìm cái hầm đó. Mênh mông rừng núi nên phải kiểm tra trên thực địa có thấy vật chuẩn không đã. Nếu không thấy vật chuẩn, thì đừng tìm chi cho mất công - Tôi nói.
Ngày 21 tháng 12 năm 2000, Ðồng chí Lê Kim tuyến nguyên Kế toán -Trinh sát tiểu đoàn, hiện đang nghỉ hưu và sống ở Giao thanh, Giao thuỷ Nam định cùng một số anh em khác lên đường vào Tây nguyên kiểm tra vật chuẩn duy nhất trên thực địa. Thật may mắn; Vật chuẩn "Khối đá vát khổng lồ", nơi tôi cùng Nhữ Quang Nhu và Ðào Xuân Long trèo lên quan sát vẫn còn sừng sững như một toà nhà nằm đó. Chúng tôi mừng lắm và riêng tôi không nén nổi xúc động khi nhìn trên màn hình. Chính nó, hơn 30 năm trước suýt nữa chết khi bò lên quan sát trận địa pháo địch bên cầu Lệ thanh. Như vậy có cơ sở để tìm ra cái hầm chỉ huy cách đó không xa.
Thế là cháu tất bật chuẩn bị hồ sơ gửi vào tỉnh đội Gia lai. Càng nhìn cháu, tôi càng nhớ Anh Cường. Lòng quyết tâm tìm Cha của người con gái chân yếu tay mềm ấy là nét đẹp với tôi, mang lại cho tôi niềm vui cuộc sống. Những Người lính chiến năm xưa không còn thấy tủi thân cho những ngày thiếu cơm, đói muối, đắp chăn, bón cháo cho nhau trong suốt chặng đường hành quân đi đánh giặc. Cho dù hài cốt còn, hay đã về với đất, thì Anh Cường nơi chín suối chắc hẳn sẽ vui lòng và chúng tôi, những người lính còn sống đến hôm nay phần nào được an ủi... Có thể vui lắm mà nói rằng: cô bé ấy bỗng đưa tôi sống lại tuổi đôi mươi, tuổi của những ngày xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước. Lúc chúng tôi lên đường, cháu mới tròn một tuổi, sức mạnh nào đã giúp cháu nhớ Cha đến vậy ? Phải chăng Bà nội, người Mẹ liệt sỹ ? Bằng ấy năm mòn mỏi vẫn chẳng đêm nào giám gài then cửa, cho nó về còn đẩy, mở cho nhanh đã in sâu vào tình cảm của cháu, truyền cho cháu một sức mạnh để một lần nữa, cháu lại lên đường vào vùng đất hoang vu tìm cha mình.
* 23/4/01 có tin, tỉnh đội Gia lai gọi ra thông báo kết quả chuyến đi 3 ngày của đội trinh sát có đồng bào địa phương đẫn đường theo tài liệu gửi vào. Một phát hiện là khu vực ấy là có thật nhưng là vài chục cái hầm chứ không phải trên dưới 10 chiếc như tôi nhớ. Có thể lúc vào trận, công binh ta đào thêm chăng? Người dẫn đường nói, trước đây khoảng 10 năm có vào đây đào bới tìm kiếm cát tút đạn và phế liệu chiến tranh để bán thì không ngờ bới được một bộ xương ở độ sâu khoảng một mét, thấy vậy họ hoảng sợ và bỏ luôn cho đến bây giờ. Cho dù gia đình vào không kịp, tỉnh đội vẫn tiến hành khai thác theo kế hoạch. Niềm vui và hy vọng lại một lần nữa được nhân lên gấp bội. Cháu cuống cuồng, còn tôi cũng vội vàng ba lô, thuốc men sẵn sàng để lên đường. Nhưng...có lẽ Vết thương của tôi... không cho tôi đi trong tình huống vội vàng, gấp gáp thế. Tôi mang tin mừng đến báo cáo hội Bạn chiến đấu K33 họp ở Làng Chuông Thanh oai Hà tây vào đúng dịp 30 tháng 4. Buổi gặp mặt năm ấy (2001), có lẽ đã hướng phần lớn sự chú ý vào những cú điện thoại và từng bước chân ngoài vùng phủ sóng của cô gái nhỏ đang trên đường lên cao nguyên nắng gió. Thiếu tướng Thành Lai, sau khi xem đoạn băng quay tảng đá từ hai phía, ông nhận ra: chính ông lưỡng lự, cực chẳng đã mới phải chọn nó làm đài quan sát phụ bởi nó chênh vênh nguy hiểm quá chừng. Niềm tin được củng cố, tôi thầm gọi: Con gái ơi! hãy gắng lên lần nữa, lần này nữa thôi may mắn tìm được cha mình.
* Ðầu tháng 5/ 2001 vào lúc mà người ta vui vẻ, áo quần đẹp đẽ dạo phố mừng ngày toàn thắng 30/4 và quốc tế lao động 1/5, thì tại một vùng cao nguyên hoang vu trong nắng chói chang, khô rát, một lần nữa, cô gái Hà nội bé nhỏ ấy đang ba lô, cơm lá chuối, nước suối phèn trên vùng Cúc quý khô vàng rực tìm cha mình.
Ðội quy tập tỉnh đội Gia lai ra sức đào bới tại chiếc hầm to, có dáng dấp hầm chỉ huy trong một loạt hầm ở khu đó. Bên trên vùi lấp, toàn là đồ biệt kích Mỹ và dưới độ sâu hơn 2 mét, thấy mẩu Tăng ny lon quân dụng Miền bắc ( Tăng là tấm nóc che mưa cho chiếc võng cá nhân lúc còn sống và cũng là tấm vải liệm, chiếc quan tài cho giấc ngủ ngàn thu lúc hy sinh), mọi người oà lên khóc, tiếp tục đào bới đến cùng và sang các ngách hầm phụ kế bên. Ngoài đồ biệt kích Mỹ và một số vật chứng của quân ta như vỏ liều phóng DKB hoen rỉ ở lớp đất bên trên, vẫn không thấy thêm gì nữa. Cả nhà lại oà khóc lần thứ hai - Nghe đến đây, không nén nổi xúc động, tôi lặng đi trong giây lát và như không còn nghe thấy những gì cháu nói tiếp nữa. Bức ảnh chụp toàn cảnh nơi tìm thấy mẩu Tăng, làm tôi như bị thôi miên vào một vùng kỷ niệm xa xưa ấy. Và sự băn khoăn: liệu Bố cháu có bị Biệt kích Mỹ chuyển nơi khác? Hay là sau khi bới được, chúng đã "tiễn" ông lên trời rồi?.
Tuy chưa đưa được hài cốt về nhưng hồn anh đã về với mỗi chúng tôi, đã về với Mẹ già, với gia đình và nhất là với Cô bé mà Anh đã khắc tên trong giây lưng như bồng con xung trận năm nào. Cháu đã đến được chính mảnh đất Bố mình đánh giặc rồi.
Sau đây là vài dòng ghi nhanh của cháu trên trận địa năm xưa vào phút thất vọng trước khi quay về, như bài điếu bộc bệch nỗi lòng mình với người Cha thân yêu còn nằm lại nơi cao nguyên núi rừng trùng điệp ấy.
Tạm đặt tên cho những lời bộc bạch ấy là " Bình độ 500 - con gái tìm cha" để các bạn cùng nghe:
Bình độ 500 - con gái tìm cha
Con tìm đến đây như trở lại nhà mình
Nào đỉnh 500, Pôcô, Chư pảh
Những tên sông, tên rừng, tên đất
Thành thân quen với con tự bao giờ
Ba mươi mấy năm vằng vặc nỗi mong chờ
Bà vẫn đợi một bàn tay gọi cửa
Vẫn không tin Bố chẳng quay về nữa
Gấp khăn trắng cất đi mẹ ngùi ngậm sang đò
Vẫn trong con thấp thỏm một nỗi niềm
Một tên đất mơ hồ trong nỗi nhớ
Một ngọn núi, một cánh rừng , dòng suối
Bao năm rồi hồi hộp trở về đây
Mặt trời của con đã lặn dưới đất này
Rừng thăm thẳm mắt bố nhìn lần cuối
Qua kẽ lá màu trời xanh vời vợi
Ngỡ ngày về đang ru con trên tay
Ôi đã từng đẫm ướt dưới chân con
Những giọt máu của biết bao người lính
Và dưới đất còn bao người đang nghỉ
Con bước khẽ khàng sợ đồng đội Bố đau
Bố ngã xuống đổi lấy ánh ngày
Cho con sống những ngày đáng sống
Cho con lớn vượt nhọc nhằn hờn tủi
Ba mươi mấy năm gian khó cuộc đời này
Những ước mơ, những công việc, những con đường
Tuổi trẻ, khát khao, tình yêu chưa sống hết
Con thay Bố đi tiếp phần bỏ dở
Niềm tự hào rạng rỡ ánh mắt con
Dẫu Bố ơi chưa đưa được Bố về
Mặt đất rộng bàn tay con nhỏ bé
Ôi thịt xương xưa hóa rừng hóa đất
Bố đã thành đất nước ở trong con
Con đi tìm giữa cao nguyên mênh mông
Ðất đỏ xẫm dưới chân và trên đầu mây trắng
Máu thịt của con còn nằm trong đất
Ðêm đêm vẫn về thức dậy trong con
Những tên rừng, tên đất, tên sông
Những Tân thanh, Chư Prông, Chư Pah
Một nhành cây, một con đường ngọn cỏ
Con đi tìm mải miết dấu vết xưa
Bố nằm đâu giữa cao nguyên mênh mông
Bạt ngàn gió hoa Cúc quỳ vàng rực
Chẳng xa lạ dẫu lần đầu mới đến
Con đã thương đất ấy tự bao giờ
Thôi nhé Bố ơi ở lại
Với đất với trời Tây nguyên
Ðồng đội anh em bốn phía quây quần
Suối Kram âm thầm nước mát
những đỉnh năm trăm, Chư pah,Goungot
Bước chân con đi vẹt cây rừng
Gai cào sót da, ruột sót trăm lần
hương khói thắp lên Bố ơi có thấu
Con đi giữa nắng đồi le chan lửa
không ngọn gió lay không bóng cây rừng
Uống nước vũng phèn cơm đùm lá chuối
Bố nằm đâu trong ngàn ngạt cỏ cây ?
Những ngày nắng đêm mưa quay quắt
Phải máu xương xưa đã hóa đất hóa rừng
Tổ quốc bao la bát ngát điệp trùng
Mỗi tấc đất đều có hồn liệt sỹ
Biết bao giờ con trở lại đây
Vốc nắm đất gói nỗi thương vào đó
Thôi nhé đành, Bố ơi ở lại
Với trời, với đất Tây nguyên...
Với đất với trời Tây nguyên
Ðồng đội anh em bốn phía quây quần
Suối Kram âm thầm nước mát
những đỉnh năm trăm, Chư pah,Goungot
Bước chân con đi vẹt cây rừng
Gai cào sót da, ruột sót trăm lần
hương khói thắp lên Bố ơi có thấu
Con đi giữa nắng đồi le chan lửa
không ngọn gió lay không bóng cây rừng
Uống nước vũng phèn cơm đùm lá chuối
Bố nằm đâu trong ngàn ngạt cỏ cây ?
Những ngày nắng đêm mưa quay quắt
Phải máu xương xưa đã hóa đất hóa rừng
Tổ quốc bao la bát ngát điệp trùng
Mỗi tấc đất đều có hồn liệt sỹ
Biết bao giờ con trở lại đây
Vốc nắm đất gói nỗi thương vào đó
Thôi nhé đành, Bố ơi ở lại
Với trời, với đất Tây nguyên...
Đức Long
Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014
08 - MẸ ƠI! CHÂN CON ĐÂU RỒI? - Đức Long
08 - MẸ ƠI! CHÂN CON ĐÂU RỒI?
Đức Long
Bấm xem :
Mở mắt, tôi nghĩ mãi không ra, đây là đâu? rồi lại lơ mơ không biết gì nữa. Trên kia!...đúng mái nhà lá Trung quân, nhưng sao mình lại nằm đây ? nhìn xuống chân, thấy chỉ còn một chiếc, chân trái mất đâu rồi ? Mớ bông gạc to tướng trắng toát thấm đầy máu đầu mỏm cụt.
Nhớ rồi !... Địch bỏ chạy khỏi Chơn thành (lộ 13) sau những đợt pháo kích dữ dội của Trung đoàn 42 và vòng vây khép chặt của bộ binh sư đoàn 9 Quân đoàn 4. Tôi ghi vội vàng 24 chùm số X và Y là tọa độ 12 điểm phản ứng của địch từ Cơ sở ta trong lòng địch báo ra" qua sóng vô tuyến. Tôi ghi mà không kịp căn lên bản đồ, gấp vội cho vào túi tài liệu, hấp tấp lên xe trong sự hối hả, giục dã của cánh "Trìu" Thông tin: Trinh sát khẩn trương! để thu Ăng ten cho kịp hành quân!..
Kể từ Mậu thân 68 tổng phản công vào Sài gòn, cho đến lúc sang đất bạn Campuchia giúp ông hoàng Xihanuc, chúng tôi luôn là những binh đoàn chủ lực cơ động mạnh của quân giải phóng miền nam. Thế nhưng, không giống xuân Mậu thân, lần này, còn có thêm những binh đoàn hoả lực trẻ từ miền Bắc chi viện kịp thời. Chúng tôi tôn vinh lớp trẻ ấy là "Đại quân" còn chúng tôi chỉ là "Địa phương quân" và tự an ủi: Mình đã là thổ dân quen thuộc địa hình, chỗ nào khó nhất cần đi trước là mình. Mỗi lần khó hơn thì nhờ chị em Du kích giúp đỡ, bởi nếu không, sẽ đạp phải mìn là cái chắc. Lý do đó ! Quân đoàn tôi được lệnh nhường lại vị trí Tây bắc Sài gòn này cho sư đoàn 341 rồi nhanh chóng vòng xuống hướng Ba dừa lộ 4 tiến vào Sài gòn.
Có lẽ trời đầy, đơn vị bị sa lầy không sao tiến nhanh được, nghe đâu còn bị chìm nghỉm cả xe lẫn pháo dưới lòng sông Vàm cỏ đông nữa. Thế là việc đánh chiếm dinh Độc lập đã thuộc vào Quân đoàn khác từ Bắc tiến vào.
Vừa giao xong chiếc mô tô Honda cho cánh công vụ trung đoàn, còn đang ngó nghiêng tìm chỗ để dán mấy cái toạ độ phản ứng của địch ghi lúc nãy vào Bản đồ thì chùm bom rải thảm ập đến. Đúng nó đấy ! Lúc ấy chỉ là linh cảm, nhưng sau này bình tĩnh lại mới hiểu là chúng tôi đã rơi vào 1 trong 12 cái toạ độ chết... (Căn cứ cũ của đơn vị đặc công 429 gần Cầu Thị tính) .... Sự gấp gáp vội vàng đã khiến chúng tôi phải trả giá khá đắt đấy.
Tôi bò lết bằng hai cùi tay đến hầm trú ẩn sau nhiều loạt bom nổ tức ngực, hai chân tê dại, kéo theo cái cẳng chân lăn lóc đã bị cắt gần như đứt, chui tụt được vào miệng hầm. Ngồi lại ngay ngắn, định thần, cố gắng cử động cái chân không cụt cũng không được. Tưởng số phận của nó cũng "xong" rồi, bèn rút khẩu súng ra khỏi bụng. Tiếng trung đoàn trưởng Phạm Quới phía đầu hầm bên kia :
- Giữ chặt tay nó! lôi khẩu súng ở tay nó ra! tháo giày! cắt đoạn chân cho khỏi đau!
Thằng Thuần ( Cơ công trung đoàn) cậy tay tôi lấy được khẩu súng. Tôi rút dao găm vẫn mang trong mình bấy lâu đưa cho nó, cái hung khí để diệt địch, nay lại cắt chính chân mình. Thế mới đau chứ.
Nó tháo giày, lóng ngóng kéo chân tôi lên và cứa...
- Không được!... - Tiếng thằng Thuần vọng ra :
- Dai lắm không cắt được; Nó làm ra bộ cứng bóng vía nhưng vẫn run run cái miệng : Có gì kê... lên, em chặt một cái ...là đứt ngay !
Anh Bảy giằng lấy con giao trên tay Thuần. Cắt tiếp không đứt nên vọt lên hầm hét to:
- Khẩn trương Garo cấp cứu. Chặt cây làm cáng mau lên!...
Thuần lật ngược bàn chân tôi, ép vào chỗ cẳng chân đang đùn máu, lấy khăn Cà ma cột lại. Tay nó run run...
30 năm sau mới có dịp nghe anh Bảy kể lại: Ôm thằng Quế vào lòng. Máu ngực nó đùn ra, nhét băng gạc bao nhiêu máu vẫn đùn ra, đến giờ cứ nghĩ đến là đau hết cả đầu. Không phải chỉ riêng tôi mà còn nhiều anh em khác bị thương đang kêu cứu.
Chiếc võng buộc vào đòn khiêng, gác hai đầu đòn lên hai thành chiếc xe "GMC" sát Cabin. Bên cạnh là các đồng đội khác cũng lần lượt được đưa lên như thế.
Chiếc ô tô đầy máu lao vun vút qua sở cao su Dầu tiếng, qua làng 18 đến đầu rừng Ván tám. Thấy còn lại mình tôi trên chiếc võng đầm đìa máu, Anh bạn "Chu Tây" bỏ cả chiếc xe GMC ngoài bìa rừng, đưa thương binh vào viện. ( 38 năm sau mới có cơ hội vào thăm anh. Hãy bấm vào đây xem anh ta ra sao nào.)
Đến Viện thì mắt tôi tối xầm, chỉ còn nhìn thấy màu trắng. Tôi thấy nhiều cái áo Bờ lu không đầu, không chân tây như ma trắng lượn xung quanh rồi một tiếng hét to:
- Nắn động mạch háng xem còn không ...!
Có bàn tay nào đó sờ vào háng mình và một tiếng đáp lại rất to : Còn! Chỉ nghe thế rồi tôi thiếp đi không hay biết gì nữa.
Gần một tuần sau mới lơ mơ tỉnh lại. Một khu rừng tĩnh mịch, những chiếc võng xen lẫn những chiếc giường dã chiến làm bằng tre xếp hàng cạnh nhau và trên ấy là những chiến thương mình mẩy đầy máu đã khô cứng. Ông Đấu, bác sỹ quân y ngồi bên cạnh chăm chú nhìn tôi, rồi đưa hai bàn tay vuốt nhẹ thái dương tôi, vừa xoa vừa nói :
- Yên tâm đi; Cậu sống rồi! cả đợt cùng vào hôm đấy, chỉ còn tỉnh lại mỗi mình cậu, khá lắm! chịu giỏi lắm! Đến giờ nghĩ lại mới thấy giỏi gì, Ông trời chưa cho mình chết đấy thôi.
Tỉnh dần, tôi đã ý thức được tại sao mình lại ở đây, liền hỏi ông ta:
- Anh Chí Trưởng ban tác chiến đâu?
- Đi hôm kia rồi!
Còn anh Quế trợ lý quân lực?
- Đi hôm qua!
Hỏi tiếp đến các anh em khác, họ cũng đi rồi. Nỗi đau bỗng dâng lên nghẹn cổ, nước mắt tôi ứa ra... Hai bàn tay ông bác sỹ lại áp chặt khuôn mặt hốc hác, tái ngắt của tôi, ông nho nhỏ :
- Bình tĩnh, Đừng !...đừng xúc động quá , em...chiến tranh mà...rồi ông thét lớn:
- Cái Mai đâu! Cấp cứu!!!
Một mũi tiêm được trích ngay vào cánh tay; Tôi lại lịm đi không biết gì nữa. Cứ như thế, không biết bao nhiêu lần, tỉnh rồi lại ngất, ngất rồi lại tỉnh, cho đến khi tỉnh hẳn.
Tôi ngồi dậy được rồi! Ôi ! cái đùi chỉ bé như cái cổ chân, chét một vòng tay là vừa đủ. Mất máu , mất nước, người tôi khô đét lại. Tôi vẫn có cảm giác là cái chân mất vẫn còn, nên tự bước đi, nào ngờ, mỏm cụt chống xuống đất, ngã bổ nhào đau như trời giáng, lổm ngổm co chân lên, mớ bông gạc tụt ra! Tôi nhìn xuống thì trời ơi!!! cái gì đây... bị thối rồi... Cô Mai - y sỹ bế tôi lên như bế đứa trẻ nít...Lúc này, cả người tôi chỉ còn độ ba chục cân là cùng.
Bác sỹ buộc cái chân bị thương cheo lơ lửng, rửa vết thương xong liền đắp miếng gạc cho nước nhỏ giọt từ từ vào đó.
Hé mắt, tôi hỏi : hôm nay ngày bao nhiêu rồi ?
- Ngày 10 tháng 4 năm 1975; Đồng chí đã bất tỉnh gần một tuần rồi. Đồng chí đã chiến thắng cái chết thật rồi!.. yên tâm đi, quân ta đã vào tới Hậu nghĩa, bao vây Đồng dù, An lộc, sắp toàn thắng rồi ! Lúc đó cậu sẽ được điều trị tốt hơn, còn bây giờ thuốc men thiếu thốn đủ thứ, thương binh nhiều quá, hãy ráng chịu nghe em - Tiếng ông bác sỹ già miền nam cho đến nay vẫn ấm áp trong tôi không sao quên được.
Giật mình tỉnh giấc lúc nửa đêm, thấy lờ mờ qua ánh đèn dầu leo lét, một nhóm quân y bấm đèn Pin, xì xào bên cạnh võng của một chiến thương nằm bất tỉnh; Tiếng cô gái dè dặt :
- Tắt thở ... không có mạch... anh ơi !!!
- Để xem !... có tiếng nói nhỏ nhưng tôi nghe rất rõ: khiêng đi!
Thế là lại thêm một đồng đội nữa của tôi ra đi không trở lại . Lúc này tự nhiên tôi mới thấy sợ, liệu cái chết có đến với tôi sau một lần thiếp đi như thế ?
Tiếng súng đã xa rồi, nhưng tiếng bom thì vẫn gần đâu đây. Địch điên cuồng trong tuyệt vọng, vội vã trút những quả bom cuối cùng để chuồn nhanh ra biển. Khí thế quân ta như nước vỡ bờ, vậy mà tôi phải nằm lại đây với cái chân bị mất. Tiếc vô cùng !
Tôi nhớ đến mẹ, đến cha, đến từng người thân quen ở miền Bắc; Đã gần tròn mười năm không gặp lại họ. Ngày ra đi mới 17 tuổi, cái tuổi nếu là thời bình còn vòi tiền Bố mẹ ăn quà, vậy mà chúng tôi đã làm được những việc tưởng như không thể làm được.
Những con ruồi rừng bắt đầu đẻ trứng vào gạc ( mà không ! rừng miền đông nam bộ thường có loại ruồi đẻ ngay ra ròi con), ròi bọ lớn nhanh như thổi. Người y sỹ tháo gạc thay băng, mỏm cụt tôi nhung nhúc những là ròi, to có, nhỏ có. Bị ê te, cồn sát trùng chúng rơi xuống khay men quằn quại. Có tiếng:
- Vết thương có ròi là chóng liền sẹo lắm đó nghe!
- Đứa nào nói bậy đó ! - tiếng ông Bác sỹ, cả hội què đều im bặt.
Chỉ được một lúc, họ lại rì rầm bàn tán xung quanh chuyện ròi ở chân tôi. Chẳng biết lành dữ thế nào, riêng tôi thì cứ nhìn mà sợ chết khiếp. Bi đát vô cùng, vết thương bị hoại tử, toàn bộ chỗ da thịt, chỉ khâu đầu mỏm cụt bị thối rã từng mảng, mỏm cụt như cái rẻ rách, nhô đầu cái xương Chày ra thật là sợ. Không khí bi quan tràn ngập đầu óc tôi. Tiếng ông bác sỹ già :
- Phải bồi dưỡng nhiều tháng nữa mới có thể cắt lại cho em. Mất máu nhiều quá, không đủ nuôi chỗ bị thương nên nó thối ra, đừng sợ, không có gì nguy hiểm đến tính mạng nữa đâu! Chẳng hiểu thật hay chỉ là Ông ta an ủi tôi.
Từ đó, cứ mỗi lần thay băng, người ta lại gõ cái banh kêu cạch cạch vào mẩu xương hở, lạnh hết cả người, vài lần sau đó rồi cũng quen. Cho đến một ngày, sau mấy tiếng gõ, mảng xương khô bên ngoài rụng xuống, lộ ra một lớp sẹo đỏ hồng bọc phần còn lại bên trong. Bọn lính xúm lại chứng kiến một kỳ tích của tạo hoá.
Đã mấy tuần trôi qua, những chiến lợi phẩm của chiến trường đã thấy đưa vào cung cấp cho bệnh viện. Anh em được cung cấp đồ hộp Mỹ, những gói Mỳ tôm, cân thịt tươi và cả những loại thuốc men y tế quý hiếm. Và cũng thấy lớp dân công vùng mới giải phóng đầu tiên đến phục vụ thương binh. Họ là các anh, chị em của thị trấn Dầu tiếng, trong họ có cả anh em binh sỹ ngụy vừa thua trận, hoặc vừa rã ngũ. Mới hôm qua họ còn "tử thủ" ở bên kia chiến tuyến nhưng hôm nay họ đang giúp quân giải phóng giải quyết hậu quả chiến tranh. Chúng tôi tò mò hỏi:
- Hôm pháo bọn tớ nã vào trung tâm, lúc ấy các cậu ở đâu ?
Mấy cậu tranh nhau đáp, thật tức cười:
- Em ở trong căn cứ, cứ bò như con chó quanh cái nhà đổ để tránh pháo các anh, thằng nọ núp đít thằng kia, mỗi lần pháo dội đến, thấy tiếng rít thì đè lên nhau nằm bẹp dí, ôm đầu, nhắm mắt chờ chết; Đông , tây, nam, bắc đều có pháo bắn tới, pháo đâu mà nhiều quá trời, ớn quá trời.
Tôi khoái lắm, nhưng vẫn còn thăm dò: ăn nhằm gì với pháo bày của bọn Mỹ nã bọn tớ? Một cậu ngắt lời ngay:
- Không! Pháo Mẽo còn chạy chỗ khác được, chứ giờ tụi em chạy đâu ..? chung quanh toàn các anh hết trơn trọi. Thế rồi cả hội cùng cười xoà vui vẻ ( thâng 8 năm 67 ở Chư pả Lệ thanh Gia lai, bọn Mỹ cũng dần chúng tớ một trận như thế đó).
Tiếng nổ xa dần, thưa dần, xa tít rồi ngừng hẳn! Đài Sài gòn loan tin :- Bản tin chót của chế độ Nguỵ Sài gòn…”TT Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện …” Hết đánh nhau rồi !- ai đó reo vang cả rừng. Niềm vui đến bất ngờ, dâng nghẹn cổ, chúng tôi ôm chặt lấy nhau, lặng đi mà nước mắt cứ trào ra. Có lẽ chiến tranh quá lâu rồi, đau thương tang tóc, hy sinh, mất mát quá nhiều rồi, hoà bình, mơ hay tỉnh em ơi…? Đúng như ai hát đó "Khôn lớn rồi mà như ngây thơ..."
Rừng xanh trở nên vắng lặng, gió lùa ngào ngạt hương thơm, hình như ... có tiếng chim ríu rít gọi bầy...
Rừng ơi!... kỷ niệm mãi trong tôi, những trái Gùi chín đỏ, những củ Nho, củ Mài nấu cháo thay cơm, những chùm quả Trường chua loét, những con chim Cao các ngất ngưởng trên cao, những ngọn rau Bướm vươn lên xanh tốt trong cánh rừng khô vì chất độc hoá học... Rừng ơi ..! hãy cất tiếng Mẹ ru hời những đứa con còn nằm lại nơi đây, cho chúng tôi trở về thành phố, có nước mắt nào vơi đi nỗi buồn còn để lại nơi đây ?
Được tin tôi còn sống, đơn vị đưa xe lên đón, cùng lúc tôi được Quân y tuyến đưa vào nội thành điều trị. Tại "Tổng y viện Cộng hòa" Gò vấp Sài gòn-Gia định, nay là Quân y viện 175, tôi được "vỗ béo" để chuẩn bị cắt chân lần thứ hai. Bây giờ, trời của ta, đất của ta, một bệnh viện hiện đại đầy đủ tiên nghi cũng là của ta và một tập thể Y, Bác sỹ đầy kinh nghiệm đang sẵn sàng đưa tôi lên "đoạn đầu đài" một lần nữa.
Đã uống trước 2 viên thuốc ngủ cực mạnh khá lâu mà tôi vẫn tự rời xe lăn nhảy lò cò leo lên bàn mổ. Hai Bác sỹ Quang và Lộ nhìn theo lắc đầu lẩm bẩm: Mấy ông tướng trời đánh không chết ....
Nằm trên bàn mổ, tôi nhớ năm xưa Mẹ gạt nước mắt tiễn tôi lên đường, dõi theo con khuất xa dần cùng đoàn quân ra trận ...Mà giờ đây... Mẹ ơi..! cái chân sáo nhỏ của mẹ năm xưa... con đánh mất rồi... Tha lỗi cho con... mẹ nhé! - ...Lơ mơ, tôi thầm gọi: Mẹ ơi ..! chân đâu rồi..!
Chiến tranh đã đi vào dĩ vãng, nhưng còn đọng lại trong tôi một thời phải nhớ, những năm tháng rất tự hào, nhưng quằn quại, mất mát đau thương, nỗi khát khao...cháy bỏng, từng đêm đếm ngày về, mơ hoà bình, thèm thuồng mọi thứ. Hãy chia sẻ niềm vui với tôi và rồi ; các bạn trẻ của tôi ơi ! Chiến tranh là thế đó. Hãy nắm lấy tay nhau, đừng châm ngòi cho nó, dù chỉ một lần, ở bất cứ đâu trên trái đất xanh quê hương yêu quý của tất cả chúng mình ./.
Bấm xem :
Mở mắt, tôi nghĩ mãi không ra, đây là đâu? rồi lại lơ mơ không biết gì nữa. Trên kia!...đúng mái nhà lá Trung quân, nhưng sao mình lại nằm đây ? nhìn xuống chân, thấy chỉ còn một chiếc, chân trái mất đâu rồi ? Mớ bông gạc to tướng trắng toát thấm đầy máu đầu mỏm cụt.
Nhớ rồi !... Địch bỏ chạy khỏi Chơn thành (lộ 13) sau những đợt pháo kích dữ dội của Trung đoàn 42 và vòng vây khép chặt của bộ binh sư đoàn 9 Quân đoàn 4. Tôi ghi vội vàng 24 chùm số X và Y là tọa độ 12 điểm phản ứng của địch từ Cơ sở ta trong lòng địch báo ra" qua sóng vô tuyến. Tôi ghi mà không kịp căn lên bản đồ, gấp vội cho vào túi tài liệu, hấp tấp lên xe trong sự hối hả, giục dã của cánh "Trìu" Thông tin: Trinh sát khẩn trương! để thu Ăng ten cho kịp hành quân!..
Kể từ Mậu thân 68 tổng phản công vào Sài gòn, cho đến lúc sang đất bạn Campuchia giúp ông hoàng Xihanuc, chúng tôi luôn là những binh đoàn chủ lực cơ động mạnh của quân giải phóng miền nam. Thế nhưng, không giống xuân Mậu thân, lần này, còn có thêm những binh đoàn hoả lực trẻ từ miền Bắc chi viện kịp thời. Chúng tôi tôn vinh lớp trẻ ấy là "Đại quân" còn chúng tôi chỉ là "Địa phương quân" và tự an ủi: Mình đã là thổ dân quen thuộc địa hình, chỗ nào khó nhất cần đi trước là mình. Mỗi lần khó hơn thì nhờ chị em Du kích giúp đỡ, bởi nếu không, sẽ đạp phải mìn là cái chắc. Lý do đó ! Quân đoàn tôi được lệnh nhường lại vị trí Tây bắc Sài gòn này cho sư đoàn 341 rồi nhanh chóng vòng xuống hướng Ba dừa lộ 4 tiến vào Sài gòn.
Có lẽ trời đầy, đơn vị bị sa lầy không sao tiến nhanh được, nghe đâu còn bị chìm nghỉm cả xe lẫn pháo dưới lòng sông Vàm cỏ đông nữa. Thế là việc đánh chiếm dinh Độc lập đã thuộc vào Quân đoàn khác từ Bắc tiến vào.
Vừa giao xong chiếc mô tô Honda cho cánh công vụ trung đoàn, còn đang ngó nghiêng tìm chỗ để dán mấy cái toạ độ phản ứng của địch ghi lúc nãy vào Bản đồ thì chùm bom rải thảm ập đến. Đúng nó đấy ! Lúc ấy chỉ là linh cảm, nhưng sau này bình tĩnh lại mới hiểu là chúng tôi đã rơi vào 1 trong 12 cái toạ độ chết... (Căn cứ cũ của đơn vị đặc công 429 gần Cầu Thị tính) .... Sự gấp gáp vội vàng đã khiến chúng tôi phải trả giá khá đắt đấy.
Tôi bò lết bằng hai cùi tay đến hầm trú ẩn sau nhiều loạt bom nổ tức ngực, hai chân tê dại, kéo theo cái cẳng chân lăn lóc đã bị cắt gần như đứt, chui tụt được vào miệng hầm. Ngồi lại ngay ngắn, định thần, cố gắng cử động cái chân không cụt cũng không được. Tưởng số phận của nó cũng "xong" rồi, bèn rút khẩu súng ra khỏi bụng. Tiếng trung đoàn trưởng Phạm Quới phía đầu hầm bên kia :
- Giữ chặt tay nó! lôi khẩu súng ở tay nó ra! tháo giày! cắt đoạn chân cho khỏi đau!
Thằng Thuần ( Cơ công trung đoàn) cậy tay tôi lấy được khẩu súng. Tôi rút dao găm vẫn mang trong mình bấy lâu đưa cho nó, cái hung khí để diệt địch, nay lại cắt chính chân mình. Thế mới đau chứ.
Nó tháo giày, lóng ngóng kéo chân tôi lên và cứa...
- Không được!... - Tiếng thằng Thuần vọng ra :
- Dai lắm không cắt được; Nó làm ra bộ cứng bóng vía nhưng vẫn run run cái miệng : Có gì kê... lên, em chặt một cái ...là đứt ngay !
Anh Bảy giằng lấy con giao trên tay Thuần. Cắt tiếp không đứt nên vọt lên hầm hét to:
- Khẩn trương Garo cấp cứu. Chặt cây làm cáng mau lên!...
Thuần lật ngược bàn chân tôi, ép vào chỗ cẳng chân đang đùn máu, lấy khăn Cà ma cột lại. Tay nó run run...
30 năm sau mới có dịp nghe anh Bảy kể lại: Ôm thằng Quế vào lòng. Máu ngực nó đùn ra, nhét băng gạc bao nhiêu máu vẫn đùn ra, đến giờ cứ nghĩ đến là đau hết cả đầu. Không phải chỉ riêng tôi mà còn nhiều anh em khác bị thương đang kêu cứu.
Chiếc võng buộc vào đòn khiêng, gác hai đầu đòn lên hai thành chiếc xe "GMC" sát Cabin. Bên cạnh là các đồng đội khác cũng lần lượt được đưa lên như thế.
Chiếc ô tô đầy máu lao vun vút qua sở cao su Dầu tiếng, qua làng 18 đến đầu rừng Ván tám. Thấy còn lại mình tôi trên chiếc võng đầm đìa máu, Anh bạn "Chu Tây" bỏ cả chiếc xe GMC ngoài bìa rừng, đưa thương binh vào viện. ( 38 năm sau mới có cơ hội vào thăm anh. Hãy bấm vào đây xem anh ta ra sao nào.)
Đến Viện thì mắt tôi tối xầm, chỉ còn nhìn thấy màu trắng. Tôi thấy nhiều cái áo Bờ lu không đầu, không chân tây như ma trắng lượn xung quanh rồi một tiếng hét to:
- Nắn động mạch háng xem còn không ...!
Có bàn tay nào đó sờ vào háng mình và một tiếng đáp lại rất to : Còn! Chỉ nghe thế rồi tôi thiếp đi không hay biết gì nữa.
Gần một tuần sau mới lơ mơ tỉnh lại. Một khu rừng tĩnh mịch, những chiếc võng xen lẫn những chiếc giường dã chiến làm bằng tre xếp hàng cạnh nhau và trên ấy là những chiến thương mình mẩy đầy máu đã khô cứng. Ông Đấu, bác sỹ quân y ngồi bên cạnh chăm chú nhìn tôi, rồi đưa hai bàn tay vuốt nhẹ thái dương tôi, vừa xoa vừa nói :
- Yên tâm đi; Cậu sống rồi! cả đợt cùng vào hôm đấy, chỉ còn tỉnh lại mỗi mình cậu, khá lắm! chịu giỏi lắm! Đến giờ nghĩ lại mới thấy giỏi gì, Ông trời chưa cho mình chết đấy thôi.
Tỉnh dần, tôi đã ý thức được tại sao mình lại ở đây, liền hỏi ông ta:
- Anh Chí Trưởng ban tác chiến đâu?
- Đi hôm kia rồi!
Còn anh Quế trợ lý quân lực?
- Đi hôm qua!
Hỏi tiếp đến các anh em khác, họ cũng đi rồi. Nỗi đau bỗng dâng lên nghẹn cổ, nước mắt tôi ứa ra... Hai bàn tay ông bác sỹ lại áp chặt khuôn mặt hốc hác, tái ngắt của tôi, ông nho nhỏ :
- Bình tĩnh, Đừng !...đừng xúc động quá , em...chiến tranh mà...rồi ông thét lớn:
- Cái Mai đâu! Cấp cứu!!!
Một mũi tiêm được trích ngay vào cánh tay; Tôi lại lịm đi không biết gì nữa. Cứ như thế, không biết bao nhiêu lần, tỉnh rồi lại ngất, ngất rồi lại tỉnh, cho đến khi tỉnh hẳn.
Tôi ngồi dậy được rồi! Ôi ! cái đùi chỉ bé như cái cổ chân, chét một vòng tay là vừa đủ. Mất máu , mất nước, người tôi khô đét lại. Tôi vẫn có cảm giác là cái chân mất vẫn còn, nên tự bước đi, nào ngờ, mỏm cụt chống xuống đất, ngã bổ nhào đau như trời giáng, lổm ngổm co chân lên, mớ bông gạc tụt ra! Tôi nhìn xuống thì trời ơi!!! cái gì đây... bị thối rồi... Cô Mai - y sỹ bế tôi lên như bế đứa trẻ nít...Lúc này, cả người tôi chỉ còn độ ba chục cân là cùng.
Bác sỹ buộc cái chân bị thương cheo lơ lửng, rửa vết thương xong liền đắp miếng gạc cho nước nhỏ giọt từ từ vào đó.
Hé mắt, tôi hỏi : hôm nay ngày bao nhiêu rồi ?
- Ngày 10 tháng 4 năm 1975; Đồng chí đã bất tỉnh gần một tuần rồi. Đồng chí đã chiến thắng cái chết thật rồi!.. yên tâm đi, quân ta đã vào tới Hậu nghĩa, bao vây Đồng dù, An lộc, sắp toàn thắng rồi ! Lúc đó cậu sẽ được điều trị tốt hơn, còn bây giờ thuốc men thiếu thốn đủ thứ, thương binh nhiều quá, hãy ráng chịu nghe em - Tiếng ông bác sỹ già miền nam cho đến nay vẫn ấm áp trong tôi không sao quên được.
Giật mình tỉnh giấc lúc nửa đêm, thấy lờ mờ qua ánh đèn dầu leo lét, một nhóm quân y bấm đèn Pin, xì xào bên cạnh võng của một chiến thương nằm bất tỉnh; Tiếng cô gái dè dặt :
- Tắt thở ... không có mạch... anh ơi !!!
- Để xem !... có tiếng nói nhỏ nhưng tôi nghe rất rõ: khiêng đi!
Thế là lại thêm một đồng đội nữa của tôi ra đi không trở lại . Lúc này tự nhiên tôi mới thấy sợ, liệu cái chết có đến với tôi sau một lần thiếp đi như thế ?
Tiếng súng đã xa rồi, nhưng tiếng bom thì vẫn gần đâu đây. Địch điên cuồng trong tuyệt vọng, vội vã trút những quả bom cuối cùng để chuồn nhanh ra biển. Khí thế quân ta như nước vỡ bờ, vậy mà tôi phải nằm lại đây với cái chân bị mất. Tiếc vô cùng !
Tôi nhớ đến mẹ, đến cha, đến từng người thân quen ở miền Bắc; Đã gần tròn mười năm không gặp lại họ. Ngày ra đi mới 17 tuổi, cái tuổi nếu là thời bình còn vòi tiền Bố mẹ ăn quà, vậy mà chúng tôi đã làm được những việc tưởng như không thể làm được.
Những con ruồi rừng bắt đầu đẻ trứng vào gạc ( mà không ! rừng miền đông nam bộ thường có loại ruồi đẻ ngay ra ròi con), ròi bọ lớn nhanh như thổi. Người y sỹ tháo gạc thay băng, mỏm cụt tôi nhung nhúc những là ròi, to có, nhỏ có. Bị ê te, cồn sát trùng chúng rơi xuống khay men quằn quại. Có tiếng:
- Vết thương có ròi là chóng liền sẹo lắm đó nghe!
- Đứa nào nói bậy đó ! - tiếng ông Bác sỹ, cả hội què đều im bặt.
Chỉ được một lúc, họ lại rì rầm bàn tán xung quanh chuyện ròi ở chân tôi. Chẳng biết lành dữ thế nào, riêng tôi thì cứ nhìn mà sợ chết khiếp. Bi đát vô cùng, vết thương bị hoại tử, toàn bộ chỗ da thịt, chỉ khâu đầu mỏm cụt bị thối rã từng mảng, mỏm cụt như cái rẻ rách, nhô đầu cái xương Chày ra thật là sợ. Không khí bi quan tràn ngập đầu óc tôi. Tiếng ông bác sỹ già :
- Phải bồi dưỡng nhiều tháng nữa mới có thể cắt lại cho em. Mất máu nhiều quá, không đủ nuôi chỗ bị thương nên nó thối ra, đừng sợ, không có gì nguy hiểm đến tính mạng nữa đâu! Chẳng hiểu thật hay chỉ là Ông ta an ủi tôi.
Từ đó, cứ mỗi lần thay băng, người ta lại gõ cái banh kêu cạch cạch vào mẩu xương hở, lạnh hết cả người, vài lần sau đó rồi cũng quen. Cho đến một ngày, sau mấy tiếng gõ, mảng xương khô bên ngoài rụng xuống, lộ ra một lớp sẹo đỏ hồng bọc phần còn lại bên trong. Bọn lính xúm lại chứng kiến một kỳ tích của tạo hoá.
Đã mấy tuần trôi qua, những chiến lợi phẩm của chiến trường đã thấy đưa vào cung cấp cho bệnh viện. Anh em được cung cấp đồ hộp Mỹ, những gói Mỳ tôm, cân thịt tươi và cả những loại thuốc men y tế quý hiếm. Và cũng thấy lớp dân công vùng mới giải phóng đầu tiên đến phục vụ thương binh. Họ là các anh, chị em của thị trấn Dầu tiếng, trong họ có cả anh em binh sỹ ngụy vừa thua trận, hoặc vừa rã ngũ. Mới hôm qua họ còn "tử thủ" ở bên kia chiến tuyến nhưng hôm nay họ đang giúp quân giải phóng giải quyết hậu quả chiến tranh. Chúng tôi tò mò hỏi:
- Hôm pháo bọn tớ nã vào trung tâm, lúc ấy các cậu ở đâu ?
Mấy cậu tranh nhau đáp, thật tức cười:
- Em ở trong căn cứ, cứ bò như con chó quanh cái nhà đổ để tránh pháo các anh, thằng nọ núp đít thằng kia, mỗi lần pháo dội đến, thấy tiếng rít thì đè lên nhau nằm bẹp dí, ôm đầu, nhắm mắt chờ chết; Đông , tây, nam, bắc đều có pháo bắn tới, pháo đâu mà nhiều quá trời, ớn quá trời.
Tôi khoái lắm, nhưng vẫn còn thăm dò: ăn nhằm gì với pháo bày của bọn Mỹ nã bọn tớ? Một cậu ngắt lời ngay:
- Không! Pháo Mẽo còn chạy chỗ khác được, chứ giờ tụi em chạy đâu ..? chung quanh toàn các anh hết trơn trọi. Thế rồi cả hội cùng cười xoà vui vẻ ( thâng 8 năm 67 ở Chư pả Lệ thanh Gia lai, bọn Mỹ cũng dần chúng tớ một trận như thế đó).
Tiếng nổ xa dần, thưa dần, xa tít rồi ngừng hẳn! Đài Sài gòn loan tin :- Bản tin chót của chế độ Nguỵ Sài gòn…”TT Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện …” Hết đánh nhau rồi !- ai đó reo vang cả rừng. Niềm vui đến bất ngờ, dâng nghẹn cổ, chúng tôi ôm chặt lấy nhau, lặng đi mà nước mắt cứ trào ra. Có lẽ chiến tranh quá lâu rồi, đau thương tang tóc, hy sinh, mất mát quá nhiều rồi, hoà bình, mơ hay tỉnh em ơi…? Đúng như ai hát đó "Khôn lớn rồi mà như ngây thơ..."
Rừng xanh trở nên vắng lặng, gió lùa ngào ngạt hương thơm, hình như ... có tiếng chim ríu rít gọi bầy...
Rừng ơi!... kỷ niệm mãi trong tôi, những trái Gùi chín đỏ, những củ Nho, củ Mài nấu cháo thay cơm, những chùm quả Trường chua loét, những con chim Cao các ngất ngưởng trên cao, những ngọn rau Bướm vươn lên xanh tốt trong cánh rừng khô vì chất độc hoá học... Rừng ơi ..! hãy cất tiếng Mẹ ru hời những đứa con còn nằm lại nơi đây, cho chúng tôi trở về thành phố, có nước mắt nào vơi đi nỗi buồn còn để lại nơi đây ?
Được tin tôi còn sống, đơn vị đưa xe lên đón, cùng lúc tôi được Quân y tuyến đưa vào nội thành điều trị. Tại "Tổng y viện Cộng hòa" Gò vấp Sài gòn-Gia định, nay là Quân y viện 175, tôi được "vỗ béo" để chuẩn bị cắt chân lần thứ hai. Bây giờ, trời của ta, đất của ta, một bệnh viện hiện đại đầy đủ tiên nghi cũng là của ta và một tập thể Y, Bác sỹ đầy kinh nghiệm đang sẵn sàng đưa tôi lên "đoạn đầu đài" một lần nữa.
Đã uống trước 2 viên thuốc ngủ cực mạnh khá lâu mà tôi vẫn tự rời xe lăn nhảy lò cò leo lên bàn mổ. Hai Bác sỹ Quang và Lộ nhìn theo lắc đầu lẩm bẩm: Mấy ông tướng trời đánh không chết ....
Nằm trên bàn mổ, tôi nhớ năm xưa Mẹ gạt nước mắt tiễn tôi lên đường, dõi theo con khuất xa dần cùng đoàn quân ra trận ...Mà giờ đây... Mẹ ơi..! cái chân sáo nhỏ của mẹ năm xưa... con đánh mất rồi... Tha lỗi cho con... mẹ nhé! - ...Lơ mơ, tôi thầm gọi: Mẹ ơi ..! chân đâu rồi..!
Chiến tranh đã đi vào dĩ vãng, nhưng còn đọng lại trong tôi một thời phải nhớ, những năm tháng rất tự hào, nhưng quằn quại, mất mát đau thương, nỗi khát khao...cháy bỏng, từng đêm đếm ngày về, mơ hoà bình, thèm thuồng mọi thứ. Hãy chia sẻ niềm vui với tôi và rồi ; các bạn trẻ của tôi ơi ! Chiến tranh là thế đó. Hãy nắm lấy tay nhau, đừng châm ngòi cho nó, dù chỉ một lần, ở bất cứ đâu trên trái đất xanh quê hương yêu quý của tất cả chúng mình ./.
Đức Long. Nguyên Trợ lý TS E42
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)