Thứ Ba, 22 tháng 7, 2014

Đồng đội E42 Chia Lửa thời chiến, chia vui thời bình

Đồng chí Long gửi lời cảm ơn đồng đội E42 pháo binh đông nam bộ đã đến chia vui cùng gia đình và giúp hoàn chỉnh Video này. Xin bấm vào Đây để xem.

Thứ Sáu, 18 tháng 7, 2014

40 năm truyền thống Quân đoàn 4, đông nam bộ

Về dự buổi gặp mặt đại diện CCB khu vực phía bắc, nhân 40 năm truyền thống Quân đoàn 4, đồng đội tôi kháo nhau rằng: Ngay từ khi thai nghén, QĐ4 đã anh hùng rồi... Cái bào thai ấy đã kết tụ 3 sư đoàn chủ lực mang tên Công trường 5, CT7, CT9 và đoàn pháo binh Biên hòa, trong những năm tháng đối đầu khốc liệt với quân lực Hoa Kỳ, trên chiến trường miền đông nam bộ, thời kháng chiến gian lao và anh dũng.
Xin nhìn kỹ những gương mặt già nua này đây, xem đồng đội còn nhận ra ai. Rất nhiều trong số họ đã xuất hiện trên chiến trường đồng thời cùng lúc Quân đội Mỹ ào ạt đổ bộ vào miền nam thân yêu. Họ, đã đổ biết bao mồ hôi xương máu, mất mát biết bao đồng đội thân yêu, để tiến vào Sài gòn ào ào như vũ bão. Nước nhà độc lập, non sông gom về một mối. Hòa bình nở tươi trên những khuôn mặt quê nhà. Họ lại ra đi lần nữa để cứu "Bạn" thoát khỏi họa diệt chủng. Đã 40 năm rồi ư?... Tuổi già ập đến, chân đã chậm, mắt đã mờ, nhưng chúng tôi (những cựu chiến binh Trung đoàn 42 pháo binh, Sư đoàn 9) vẫn dõi theo Quân đoàn mình với những thành tích hiện đại hóa huấn luyện, sẵn sằng chiến đấu. Mong sao, trẻ hơn già nhà có phúc, các bạn trẻ sẽ hiện đại hóa những chiêu thức đánh giặc giữ nước truyền thống của cha ông ta thuở trước. Mơ có một ngày, những con Dúi máy gắn định vị giúp các chiến sỹ đồi A1, Những thiết bị thở giúp mỗi chiến sỹ Hải quân lặn giỏi như Yết Kiêu, Những thiết bị nhỏ giúp chiến sỹ không quân phản vệ tức thì ngay khi bị cắn đuôi. Và hơn tất cả, mơ một bản lĩnh hiện đại bất ngờ không dễ gì bắt nạt. Chúc đồng đội, trẻ già đều vui khỏe nhân buổi gặp mặt đầy ý nghĩa này. Các đồng chí bầm vào    Đây   để xem nhanh một số hình ảnh của ngày họp mặt.

Thứ Hai, 2 tháng 6, 2014

Nhanh thế! Mới hồi nào đã hơn ba năm trôi qua rồi. Ta ôn lại những hình ảnh này một chút để chuẩn bị cho 45 năm sắp đến nhé. Cầu mong mọi người còn đủ cả. Cựu chiến binh Trung đoàn 42 Pháo binh Đông nam bộ, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày thành lập. Gặp mặt tại Trấn Vũ Ba Đình Hà Nội.
   Hãy bấm vào Đây để xem lại đồng đội ơi! Vào đây

Thứ Hai, 26 tháng 5, 2014

Về việc dự buổi gặp mặt truyền thống Quân đoàn 4



Quân đoàn 4 chuẩn bị tổ chức:

 “GẶP MẶT KỶ NIỆM 40 NĂM THÀNH LẬP QUÂN ĐOÀN 4”
CCB Trung đoàn 42 sẽ tham dự trong đội hình Sư đoàn 9.

BLL CCB E42 xin thông báo:

  1. Các đồng chí muốn tham dự đăng ký với đồng chí
    Nguyễn Đức Bảo ĐT: 0982 303 118 trước ngày 31/5/2014
  2. Thời gian và địa điểm buổi gặp mặt sẽ được thông báo qua điện thoại và trang web của đơn vị, ngay khi được BTC quyết định.
  3.  Kinh phí dự kiến 100 000 đ/người (tiền ăn bữa trưa)
  4. Thông tin đến các CCB khác cùng biết

Hà Nội ngày 25 tháng 5 năm 2014
T/M BLL CCB TRUNG ĐOÀN 42 PHÁO BINH
Trưởng ban
Nguyễn Đức Bảo

Thứ Tư, 12 tháng 3, 2014

12.Hồ Chí Minh, niềm tin vui trở lại ... (Đức Long)

12.Hồ Chí Minh, niềm tin vui trở lại ...
(Bài viết nhân dịp sống, học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người)

Trong hội thi báo cáo viên giỏi, Nhân thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" năm 2007 của Chi nhánh NHNo&PTNT Thăng long. Một thí sinh gái, nhỏ tuổi nhất hội thi đã gợi nhớ cho tôi một câu chuyện tuy xưa nhưng day dứt lòng người: Năm ấy, giặc Mỹ đánh phá Hà nội ác liệt lắm. Mùa nước nổi, sông Hồng vượt bờ quai, trên mức báo động 3. Chỉ một quả bom thù trúng đê, thì cả Hà nội sẽ chìm trong biển nước. Các đ/c Trung ương khuyên Bác đi sơ tán, bởi Chủ tịch phủ chỉ cách một con sóng Tây hồ là tới mép nước bờ đê. Bác trả lời: Tôi không bỏ Dân đâu!...
Người không bỏ Dân, sao dân nỡ bỏ người. Dân nguyện cùng Người … Kết thúc bài thi, rất tự nhiên, Bé cất lời ca nho nhỏ. Đôi mắt bé dần đỏ hoe theo lời ca mỗi lúc mỗi rõ ràng hơn: Chuyện kể rằng trước lúc người đi xa…Bác muốn nghe một câu hò… Khi Bé ra đời, Bác Hồ chỉ còn trên sách vở, vậy mà khi cất lời ca: Người nghe có cảm giác, y như "em gái nhỏ năm ấy” bước vào căn phòng nức nở ca, nuốt từng "lời Bác dặn trước lúc đi xa". Bé ơi! Phải chăng niềm tin mang sức thần cảm hoá, hay Bác đang về trong mỗi trái tim ta..? Cả hội trường lặng đi vì xúc động ... Không chỉ tôi mà nhiều người trong khán phòng hôm ấy đã rơi lệ.
Nhớ thời còn đánh giặc, khi Thủ đô mới giải phóng, tôi mới lên 7 tuổi, và cũng từ đó, nghe nói có một "Bác Hồ" được mọi người tin yêu. Thế rồi, cứ vào mỗi đêm mùng một tháng 9 hàng năm, ngó trước, nhìn sau... trộm viên gạch chân tường Văn miếu, chen chúc cùng bạn bè giữ chỗ, tranh nhau canh những viên gạch cho tới sáng để ước gì: trong đoàn quân duyệt binh rầm rập, đều tăm tắp sáng mai có Bác Hồ đi qua…
 Những năm ấy, cứ đến giờ khắc giao thừa, dòng người đón xuân quanh Hồ gươm đông như kiến hội, bỗng dừng lại, im phăng phắc, lắng tai... tiếng loa trên cây vọng từng lới chúc ấm áp của Người, như thể đón nhận không gian mới đầy hạnh phúc tràn về.
Giờ phút thiêng liêng ấy, tôi áp tai bên ống nghe "Ga len" (một loại thiết bị cổ, tự chế để nghe Radio thời đó), nuốt từng lời chúc của Người như uống từng dòng sữa Mẹ. "Miền nam là máu của máu Việt nam, là thịt của thịt Việt nam, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi..."
Dời ghế trường cấp III Nguyễn Huệ (Hà đông), anh em tôi mang dòng sữa ấy vào chiến trường khói lửa, thắng không kiêu, bại không nản, quyết xả thân vì non sông đất nước, theo lời Bác dạy kính yêu.
Sau ba đợt tấn công của chiến dịch Mậu thân 68, không chiếm được Sài gòn. Đầu 69, Địch phản công lại dữ dội. Hầu hết đồng bào ta bị gom vào Ấp chiến lược. Các đơn vị chủ lực lớn của ta bị đẩy lên sát rừng biên giới Việt Miên. Số ở lại chỉ là rất ít cấp tiểu đoàn hoặc đại đội độc lập, cùng du kính quân ẩn náu trong dân hoặc rừng ven đô bí mật bất ngờ đánh nhỏ lẻ. Cuối năm 69, các ngả đường tiếp tế từ biên giới Bù đốp , Bù đăng xuống Đồng xoài, Phước Vĩnh chúng tôi bị Biệt kích Mỹ phong tỏa hoàn toàn. Trong lúc Địch tìm diệt ráo riết thì cái đói khủng khiếp lại ập đến. Một lần trinh sát phước Vĩnh quay về, chúng tôi gần như ngất xỉu, khi nghe tin "Bác" đã đi xa. Tôi ngả mình dài trên một thân cây đổ, buông cây súng vô hồn, thẫn thờ bâng quơ nhìn trời xanh, mấy cành cây xơ xác lá, ngẩn ngơ như mất đi thứ gì quý giá nhất trên đời. Dưới cái nắng nung người, nồng nặc mùi lá khô vì chất độc diệt cỏ càng làm cho nỗi buồn thêm tê tái. Thiếu cơm, đói muối lâu ngày, gối chân rã rời. Mặc cho cây súng trượt sõng soài dưới đất, tôi buột miệng kêu: Mẹ ơi!.... Nghĩ đến, Miền Bắc quê tôi! đã xa, càng xa vời vợi. Tự hỏi lòng rằng ngày về còn nữa không em? Chợt nhận ra tiếng than ấy có thể làm đột quỵ anh em, tôi vội lảng sang chuyện khác. Hỏi "Củ" luộc có còn không?. Tớ đói quá…
... Chuyện buồn mãi, cho đến một ngày… Lễ tang Bác được cử hành trọng thể tại Hà nội. Chiến khu "Đ" cùng cả nước nín thở lắng nghe Di chúc của "Người", do Tổng bí thư Lê Duẩn nghẹn ngào lời điếu văn tiễn biệt. Một tia sáng, dù chỉ rất nhỏ nhoi, thấp thoáng xuất hiện cuối "đường hầm 69". Chúng tôi chợt nhận ra. Thì ra, Bác đã đi xa, nhưng Đạo đức trong sáng, ý chí và nghị lực của Người vẫn còn nguyên đây đó. Quan trọng hơn là điều ấy đã thật sự thấm sâu vào từng con tim, khối óc của từng đồng chí trong BCH Trung ương lúc bấy giờ, củng cố lại niềm tin "Tất thắng" cho toàn thể quân và dân hai miền Nam, Bắc quyết chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, dành độc lập, tự do. Vâng! Những cơn sốt rét thâm môi, tím mắt, cái đói cồn cào quặn thắt từng cơn, cái chết chỉ cách nửa sợi tóc kề bên. Còn nữa, với sự cám dỗ vật chất của kẻ thù vẫn mời mọc từng đêm. Chúng tôi quyết không đảo ngũ,"Chiêu hồi", đầu hàng hay phản bội. Chúng tôi tiếp tục đánh và đánh còn hay hơn trước... Ấy...Chính là đức tin vào con Người Việt nam trong sáng ấy! Sự trong sáng của Người khiến những người “có học” ở phía bên kia chiến tuyến cũng phải nghiêng mình bái biệt. Suốt ngày tang lễ, không một tiếng súng nào của địch bắn qua.
 Đức tin ấy là điểm tựa vững chắc nhất giúp chúng tôi giành lại từng thế chủ động trên chiến trường Đông nam bộ lúc bấy giờ. Thế rồi ngày 30 tháng 4 năm 75, đời việc gì đến đã đến. Ước vọng và lời chúc của Người thành hiện thực, Bác ơi!...Cả nước như trẻ thơ, vui, hò, reo ngập tràn đại thắng. Sài gòn tưởng như Bác tiến về cùng những canh quân ta.
 ...Hoà bình lập lại, giang sơn gấm vóc ta đã gom về một mối. Noi gương "Người", cả nước quyết xây dựng một con "Rồng" Việt nam mới. Chỉ hơi tiếc rằng, có một thời... mình quá say "Cộng trạng"...mà sao lãng lời dạy của Người, coi nhẹ lợi ích "trồng người". Để những bóng ma "Bá Kiến, Chí phèo" lại chập chờn quay về nhạo báng cảnh trái ngang.

...Giờ đây, xem lại những thước phim đẫm lệ lễ tang Người, tôi bồi hồi, xúc động, không chỉ muốn khóc mà còn muốn ước... Nếu được ước thì: ước gì non sông bất khuất VN ta lại sớm sinh ra một người con đức, tài như thế, một BCHTW như thế, để hàn vá lại nóc nhà truyền thống đạo đức, để lấy lại niềm tin "nói và làm" như thế. Và ước gì cái đó lại thấm sâu vào từng con tim, khối óc của mỗi chúng ta như thuở nào Bác mới "đi xa". Thế thì "bầy sâu" còn đâu nơi ẩn náu. Cuộc mưu sinh đâu còn tới độ nhọc nhằn thâu đêm nơi góc chợ, mom sông. Những thế lực "cơ hội" đâu còn nơi chọc ngoáy khối đại đoàn kết dân mình.
Có một thời ta đã sống như Người. Đến nay, tại sao ta không thể làm như Người, để tình đồng chí, nghĩa "Đồng bào" lại mặn nồng như Bác thuở nào vẫn sống ở trong ta?
Vẫn biết rằng, tạo hóa sinh ra loài người với trí thông minh càng tuyệt vời bao nhiêu thì lòng tham càng "vô đáy" bấy nhiêu. Thế gian này biết bao những Thánh nhân cả đời dày công tìm tòi cái gọi là để "tiết chế" lòng tham vô đáy ấy. Nhưng xem ra còn nhiều điều phải bàn lắm...
 Lòng yêu nước thương dân và Tấm gương đạo đức trong sáng của Người, phải chăng cũng là "một lời giải" cho bài toán cực khó ấy? nếu Được vậy thì quý biết bao. Dân giàu, nước mạnh... ngoại xâm vắng bóng. Tổ quốc vững bền, hòa bình muôn đời mãi mãi Việt nam ta./.
Vui cùng Xuân Giáp Ngọ. Bấm vào đây Xuân tặng Anh 2014 để chúc nhau nào đồng đội ơi: 


Thứ Ba, 11 tháng 3, 2014

11- Trở lại Vùng ven

11.TRỞ LẠI VÙNG VEN (4/2006)

Tình cờ, VTV3 mời tôi làm nhân chứng cho chương trình "Bài ca chiến thắng" nhân kỷ niệm 30 năm ngày toàn thắng (30/4/2005). Thật không may, đúng sau cái đêm vết thương tái phát co giật gần như thức trắng,  tôi gắng gượng đến trường quay S9 VTV với khuôn mặt tái nhợt, (vì trót hứa với Biên tập viên Hoàng Trang đến tận nhà mời)... Bởi đang đau trong người, tôi như ngồi trên chảo lửa, chỉ mong nhanh chóng kết thúc chương trình. Ai ngờ kéo đến gần 3 tiếng đồng hồ có khổ thân không chứ. Trộm nghĩ , đen thế không biết, trăm năm mới có một lần được phỏng vấn trên truyền hình toàn quốc mà lại bị đau thế này, sức đâu để  trả lời tỉnh táo đây.  Chỉ có một câu hỏi, làm tôi nhói đau bởi hoàn cảnh không thể nói ra.
- Sao nhớ chiến trường thế, mà đã 30 năm rồi, chú chưa trở lại thăm nơi ấy?- MC hỏi. Chẳng lẽ nói cộc lốc một câu; Chú không có tiền đi thì ngượng chết.  Nên đành chữa thẹn rằng - Chú tin một ngày, có đủ điều kiện chú sẽ trở lại thăm chiến trường xưa! Trộm nghĩ, bọn trẻ ngày nay được học hành có khác, chúng toàn xoáy đúng vào chỗ cần xoáy. Chỉ có điều lão già ngại không nói thẳng thôi. Ngày xưa đi đâu, Ở đâu, nhờ dân đấy, có gì ăn nấy. Ngày nay … Khác lắm rồi!  Nghe nói “cơm tù” dọc quốc lộ 1 mà phát ớn. Không tiền lấy gì mà đi? Lại còn chuyện, ông bạn lâu ngày mới tìm thấy, nhà nghèo có mỗi con trâu là đầu cơ nghiệp, đập chết thịt liền đãi đồng đội. Biết chuyện, anh em lại phải quyên góp bốn phương tám hướng, trong nam ngoài bắc để cứu nguy …. Kể cũng ngại.
… Thế rồi, thấm thoắt đã tròn một năm qua, cũng vào dịp 30 tháng tư năm sau (2006), tôi gom đủ tiền  "Trở lại vùng ven" như đã chót hứa với truyền hình. Nhưng rồi sau lần ấy chẳng còn ma nào thèm phỏng vấn tôi nữa. Thế là tôi đành viết truyện “Trở lại vùng ven” này vậy…Sau nhiều lần dập xóa, viết đi sửa lại chưa hài lòng mà vẫn gửi cho Tuổi trẻ điện tử “Mãi mãi tuổi hai mươi” duyệt đăng liền. Nay tôi nắn nót lại đôi chút, góp vui cùng đồng đội E42 nghe…
… Con tàu tốc hành hướng nam đưa tôi trở lại vùng chiến sự hơn 30 năm trước. Ngày ấy, hằn học trên đầu là tiếng gầm rít của các loại máy bay quân sự mỹ. Rình rập dưới đất với những họng súng đen ngòm núp trong từng gốc cây, ụ mối. Tôi dán mắt vào cảnh vật lao qua vun vút để cố tìm ra một chút kỷ niệm xưa. Xa xa lút tầm mắt, non sông ta trải dài mênh mông, kỳ vĩ khiến lòng tôi nao nao khó tả. Con tàu còn mỏi bánh, vậy mà chỉ với đôi dép cao su, điều gì khiến chúng tôi xẻ dọc Trường sơn như huyền thoại thế vậy?  Phải chăng là sức mạnh kết tinh  từ ngàn năm xưa để lại. Tổ quốc tôi!... đất nước tôi tuyệt vời và đáng yêu biết bao. Có được phút gạt bỏ mọi ưu phiền thường nhật để thảnh thơi ngắm nhìn không biết chán nước non này, tôi cố liên tưởng hình bóng người xưa cầm gươm đi mở cõi với đồng đội tôi ngã xuống trong cuộc đấu tranh để giữ lấy dải đất này, nước mắt bỗng ứa ra. Chúng mày nằm đâu? Mấy thằng bạn của tôi? Lịch sử được viết thêm những trang vàng trong cuốn sử ngàn năm anh hùng xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước. Thương người xưa đi mở đất, xót bạn tôi đã hy sinh. Trở lại Nam bộ lần này, tôi quyết viếng thăm cả những người còn sống và đã khuất.
  Nơi đầu tiên là gặp mặt các bạn chiến đấu cũ nhân ngày họp mặt hàng năm của tiểu đoàn 10 pháo binh Miền đông, tại nhà đ/c Thịnh Trinh sát, gần Ngã ba Thái lan, Long thành trên đường Sài gòn - Vũng tàu. Hơn 30 năm mới gặp lại, chỉ còn biết ôm chặt nhau mà rằng: Còn sống là tốt rồi. Mong rằng bà con trong quán nước ven đường hiểu cho điều ấy; “Hai thằng già” ôm chặt nhau còn hơn cả tình nhân.  Giọt nước mắt nhớ về kỷ niệm dìu nhau trong lửa đạn, sốt rét tái từng cơn, bón từng thìa cháo, chia nhau từng hơi thuốc lá, mẩu sắn lùi. Tình cảm ấy, chỉ có những người lính, từng kinh qua cuộc chiến đấu một mất một còn mới hiểu được. Chúng tôi ôn lại quá khứ hào hùng của Tiểu đoàn, trải qua bao thăng trầm lịch sử chiến tranh. Tiểu đoàn ấy, bao nhiêu lần phải bổ xung quân số? Bao nhiêu lần đổi tên tách ra nhập vào…vv. Đại đội 3 sau trận đọ súng ven sông Bé (cuối 1969), B40 bóp cò kêu cái tạch, đạn thối không bay, xe tăng cán lên còn lại vài đứa. Rồi từ một đơn vị Pháo phản lực vác vai thuần nhất ( DKB-K33 thuộc E69- Pháo binh Biên hoà) chuyển dần thành tiểu đoàn hoả lực đa năng của binh chủng Đặc công  (D10 - 367)?  Bạn bè tò mò hỏi tôi chết rồi, sao sống lại?... Ôi đủ chuyện trên đời. Riêng có một chuyện được trao đổi rất nhiều, đó là trận “ Ma làm” sẽ kể lại riêng.
 Lưu luyến chia tay nhau, tôi tiếp tục đến thăm và cảm ơn vị Trung đoàn trưởng năm ấy, người ra lệnh dùng dao găm cắt nốt cái chân đứt dở để cứu tôi thoát chết trong trận đánh cuối cùng. Anh cùng gia đình đang sinh sống tại Phường Thảo điền Quận 2 TP HCM. Nghe anh kể, tưởng như mới xảy ra hôm qua. Anh nói :  nghĩ lại giây phút ấy là đầu mình lại nhức nhối vô cùng, tiếng gọi cầu cứu,  thất thanh: "Anh Bảy ơi... " như đặt cả niềm tin cứu sống vào người chỉ huy, vẫn còn như tiếng sét trong đầu anh. Nhìn thằng Chí, biết không sống nổi, nó mất cả mảng mông và cái đùi thì làm sao sống nổi...Ôm thằng Quế vào lòng, nhét bao nhiêu bông, gạc vào ngực mà máu vẫn cứ đùn ra. Là chỉ huy, biết chiến sỹ mình đau đớn trước lúc đi xa mà bất lực hoàn toàn, xót lắm mày ơi.  Những năm hoà bình, anh thường tập thiền nhưng vẫn không sao quên được. Lúc ấy đầu càng đau dữ dội. Tôi ăn với anh bữa cơm có măng “Le”. Ngày ấy măng Le thay cơm, nhưng bây giờ lại là đặc sản. Có thể anh đã thông báo cho một số anh em lập nghiệp ở trong này nên, sau khi chia tay anh, tôi có nhiều cú điện gọi đầu tiên của đồng đội cũ muốn gặp nhau. Như anh chàng Chu tây ngày ấy đưa tôi đi cấp cứu. Gần 12 giờ đêm rồi mà chuông tôi còn réo, oang oang tiếng anh ta: Nói địa chỉ chỗ mày đi !... Chỉ cần có địa chỉ thì nửa đêm ngóc ngách nào ở cái đất Sài gòn này, tao cũng đến được ngay bây giờ... Khuya lắm rồi thôi để lần sau đi, hết phép sớm mai phải về bắc rồi. Trung, nam, bắc có cả, đồng đội tôi ở lại Sài gòn lập nghiệp khá đông. Nhưng thời gian hạn hẹp, làm sao đến thăm hết được. Hứa thì hứa vậy chứ biết khi nào... lần sau đây? Một lần cũng đủ ốm lắm rồi… Nghĩ vậy mà lòng vẫn cầu mong, may ra có dịp nào đó … chúng nó còn sống cả…
Tạm biệt những người còn sống, tôi đến Đền Bến Dược Củ chi thăm người đã chết. Thôi, chẳng nhớ chính xác chúng nằm chỗ nào thì đến đây vậy! Chính nơi đây, tôi đang điều nghiên “Căn cứ Đồng Dù”, có điện gọi về gấp “kết nạp…”. Thắp nén hương chắp tay cầu nguyện. Ai đó thỉnh lên 3 tiếng chuông dõng dạc, ngân vang khu đền linh lặng. Không nén nổi xúc động, nước mắt tôi cứ thế trào ra. Người đến viếng đông lắm, nhưng sao im lặng, trật tự đến thế.  Có phải hồn liệt sỹ trên kia vẫn lặng lẽ chứng giám lòng biết ơn, sự ngưỡng mộ và nhìn lại chính mình của mỗi chúng tôi ? Cầu cho vong hồn các Bác siêu thoát, cầu cho hoà bình vĩnh cửu trên đất nước này. Hơn bốn vạn rưởi đồng chí đã ghi danh thành hàng, thành lớp trên kia, và còn bao nhiêu nữa, chưa tìm thấy hoặc chưa nhớ hết ? Vâng, đó là những anh hùng đã ngã xuống trong 2 cuộc kháng chiến, dành lại những gì cho thế hệ hôm nay đã có, đang có và sẽ có.
Ôi!... những cái mái cong như đình, chùa, miếu mạo thường có trên bao làng quê Việt nam. Nhưng độ bền vững, sự bề thế và trang trọng thì không đâu bằng. Tôi thầm cảm ơn ai ? đã bảo vệ nguyên trạng mảnh đất còn ghi dấu tích bom đạn này và tạo nên một quần thể đền đài thờ tự hồn liệt sỹ ngàn năm uy nghiêm đó.  Sông Sài gòn  hiền hoà lượn quanh phía sau gợi lại kỷ niệm của những lần vượt sông trinh sát. Ngày ấy " Bobo" của giặc rẽ sóng khạc đạn khét lẹt vào đôi bờ ẩn nấp, Trực thăng chiến đấu rà sát mặt sông, săn đón từng cụm Lục bình trôi tản mạn theo dòng. Vẫn khúc sông này Đồng đội tôi, những Ai lặng lẽ trôi cùng dòng máu loang không trở lại?...
  Cây đèn "Angcol" tự tạo lại đưa tôi đến một kỷ niệm khác - Rừng địa đạo Củ chi. Chúng tôi bước vào cửa rừng và thấy mấy chiếc võng đung đưa qua lại - Nhớ quá đi thôi, năm xưa chúng tôi cũng vắt vẻo như thế. Tôi tiến lại gần và thấy hơi khác một chút. Hồi ấy, chiếc võng nylon mỏng dính và chúng tôi mắc võng kiểu khác, đơn giản, nhanh hơn, càng nằm càng chắc chắn, nếu có "động", chỉ cầm 2 đầu dây giật mạnh, võng tự rời rất nhanh, tiện tay kéo luôn xuống địa đạo hoặc vừa bôn tẩu vừa cuộn võng lại. Vừa nói tôi vừa thao tác lại để mấy người cùng xem. Vào sâu trong rừng, một cửa hầm bí mật thời đó hiện ra. Có cậu sinh viên thăm quan tò mò đã tụt nửa người xuống địa đạo, hai tay giơ lên, miệng la to : không tụt được. Tôi đùa : Có mấy trái đại bác nổ trên này, chắc cả đoàn SV các cháu sẽ tụt hết xuống đấy trong nháy mắt thôi. Mọi người cùng cười vang vui vẻ... như chưa bao giờ được cười vậy. Ngày xưa các cô,  các chú cũng cười "đã" như các cháu vậy đó, nếu tổ quốc bị xâm lăng, màu cờ sắc áo bị lăng nhục, thì dù thế hệ nào cũng vùng lên kiên cường như vậy cả, lòng tự trọng đó đã ăn sâu vào máu dân nam ta rồi, các cháu à!
Trang phục của các cháu hướng dẫn viên làm tôi lại nhớ dáng người thiếu nữ ngày ấy đã hướng dẫn từng bước chân tôi đi tránh mìn gài dưới cỏ, dẫn tôi giữa lòng địa đạo tối thui. Nay em phiêu bạt nơi đâu? Ô kìa, tượng những người du kích trong bộ đồ năm ấy (tượng hay Ma nơ canh mốt thời thượng nhỉ?), vẫn cây đèn "nguéo", vẫn chiếc khăn rằn, tấm vải dù... đứng hiên ngang trong chiếc lều lợp lá hiện ra trước mắt. Hình như người thiết kế chương trình này đã đoán trúng tâm lý chúng tôi. May mắn, tôi ghé vào chụp vài tấm hình chung với các cô ấy làm kỷ niệm. Hồi đó, mang tiếng là cựu  trinh sát chủ lực Miền đông, nhưng đã vào đất Củ chi này thì phải theo chị em du kích, dẫn đâu đi đấy, chỉ đâu chui đấy, không hề biết cấu trúc tổng quát và phương thức an toàn như hướng dẫn cụ thể bây giờ. Nghĩ cũng phải thôi. Biết để mà các ông bô bô ra có mà chết cả lũ.
Những hố bom "đìa" chỉ còn sót lại trong rừng được bảo tồn, có một thời trên đấy trơn trọi là đất khô, khét tanh mùi máu và thuốc đạn. Nay cây đã lên xanh. Hàng tấn bom mìn được đào lên, vô hiệu hoá và gom trong các căn nhà mái lá dừa nước, làm lưu niệm. Trong vô số những mảnh bom đó, mảnh nào đã phạt đứt chân tôi? Câu ca năm ấy  " ...Cá nhớ đồng xưa về xây tổ mới, giữ trứng nuôi con trong từng hố bom đìa..."  khiến lòng tôi dâng lên một nỗi nhớ, thương, mủi lòng muốn khóc. Còn nhớ những nụ cười năm ấy, trong khói bom, vẫn hiên ngang không biết cúi đầu. Ôi đẹp làm sao! Cái đẹp của sự rắn rỏi, duyên dáng, diệu kỳ. Nếu còn phép, chắc hẳn, tôi sẽ ở lại đây một đêm để cảm nhận dư âm gió sông Sài gòn đung đưa từng nhành cây, ngọn lá, may ra có được giấc mơ  gặp lại người xưa…. Người con gái năm ấy đang cười với tôi kìa… Nhưng không thể được, tôi đang chạy đua để tìm lại ngày ấy của chính mình.  Có bao nhiêu bạn bè biết vẫn sống mà chưa gặp mặt? Bao vùng đất và con người đã cứu sống và giúp tôi vượt qua lửa đạn chiến tranh, vẫn chưa tìm thấy? Nhưng dù ít hay nhiều, tôi đã tìm lại vài hình ảnh năm xưa của chính mình. Trở về Hà nội với công việc mưu sinh hàng ngày, ghi lại cảm xúc của mình với đồng đội và mời các bạn trẻ " Mãi mãi tuổi 20" cùng nghe. Xin gửi khúc tâm tình này đến Huyện đội, ban quản lý khu di tích Bến Dược - Củ chi và xin trân trọng cảm ơn Đảng, nhà nước và các đồng chí " Đất thép Thành đồng". Mong các đồng chí giữ mãi danh hiệu bất tử ấy.


 Đức Long

Thứ Hai, 10 tháng 3, 2014

10- Vượn con bám địch

10. Vượn con đi bám địch (1970) 

Tập hát cho đời trẻ lại nào đồng đội ơi!
  http://www.youtube.com/watch?v=816nee8XORE
  

Chiều Sở thú, mấy chú vượn đùa nghịch làm tôi chợt nhớ một bi kịch cách đây hơn 30 năm trước. Vào lúc quân đội Mỹ hung hăng, tàn bạo nhất ở nam Việt nam. Chúng tôi pháo kích một căn cứ lớn của chúng ở huyện lỵ Phước vĩnh và sau đó bị đánh trả, 8 chiến sỹ mình mất tích. Căn cứ tôi bị lộ, Địch đổ quân bao vây, tấn công định bắt sống Tiểu đoàn bộ (K33-E96-F75). Chúng tôi thoát vây vội rút lên căn cứ cũ trên K20 (tây nam rừng Cát tiên ngày nay) nhưng vẫn không yên tâm, vì chỗ này cũng có thể bị lộ và chúng sẽ truy kích tiếp. Xuyên rừng, chúng tôi đưa đơn vị sang tây lộ 14 lập căn cứ mới cách sông Bé chừng 3 Km (1970). Ổn định xong lán trại, Trinh sát Tiểu đoàn cần trở lại điều nghiên và nắm thêm thông tin về 8 chiến sỹ mất tích nói trên.
Định phương vị, hướng về xã Phước sang, nơi ấy Địch vẫn đang cay cú, ráo riết truy tìm tung tích Tiểu đoàn tôi. Đã hai ngày liền đi theo vết phác thảo trên bản đồ, đến sáng ngày thứ ba thấy Trực thăng địch đã thu hẹp vùng bay, Pháo địch dội liên tiếp trở lại yểm trợ. Lẫn trong tiếng pháo địch, một tiếng nổ đanh gọn, một tiếng "soạt" khô ráp và một vật mềm rớt đến bịch xuống đất. Rừng cây ào ào như có lốc, đàn vượn hoảng loạn lăng qua, lăng lại ẩn nấp.
- Nổ bậy quá!- Vừa lao tới, tôi vừa trách mắng lính tôi nổ súng bậy bạ. Trách thì cứ trách, nhưng mừng trong bụng chắc mẩm sẽ có cái măm đây. Từ ngày đường tiếp tế hậu cần 49 trên Bù đốp Lộc ninh xuống đây bị cắt đứt, chúng tôi buộc phải đào bới và săn bắt bất kể cái gì có thể ăn được trước hết là để sống và sau nữa là bám đánh tới cùng. Nhưng bắn vào lúc này thì thật là liều lĩnh "quá trời".
 Trước mắt chúng tôi, chú vượn con lông trắng ôm trên bụng một vượn cái màu vàng sẫm nằm ngửa bất động bởi một lỗ đạn quá hiểm, phá toác trên ngực. Cả  bọn ào đến rõ nhanh nhưng rồi khựng lại, ngây người ra, ngỡ ngàng. Vượn mẹ không ôm vết đau mà lại ôm chặt đứa con trên bụng, không rơi sấp mà nằm ngửa. Phải chăng nó cố xoay lưng đỡ cho đứa con bé bỏng? Nhìn Vượn sữa chưa thay lông bấu chặt, nhay nhay cái ti vô cảm kia. Tôi như bị thôi miên bởi ảo ảnh một bé con đang bú người mẹ đã chết. Thương nó đến lặng người, tôi quên biến mình đang nổi cáu.
- Thở dài ngán ngẩm, tôi nghĩ: May quá! Vượn con không sao! Có thể vết đạn hiểm khiến Vượn mẹ không kịp giao con cho bầy đàn trước khi rớt xuống. Nghe nói, lông vàng là vượn cái thường được cả đàn chăm chút, ưu ái. Khi nó gặp nạn, các chú vượn đực màu đen nhanh chóng đỡ lấy đứa con, rồi chớp nhoáng giúp nó thoát hiểm. Đàn vượn núp đâu đó trên cây thi thoảng kéo lá che thân, bất lực, vén ngó nhìn xuống...
- Nào buông ra đi! mẹ... không còn sữa đâu! - Vừa nói, tôi vừa gỡ nó ra khỏi mẹ. Nó níu chặt lắm không chịu buông, miệng kêu chít chít. Tuy không trực tiếp nổ súng, sao đôi tay vụng về của tôi cứ run run như chính mình có tội. Vừa ra khỏi  mẹ, vượn con vội túm chặt lấy ngực áo tôi rúc đầu vào nách như cầu cứu. Bối rối - Tôi ôm nó quỳ lặng thinh như tượng đá... Bóng một phụ nữ ôm con nằm lại... trong đoàn người bồng bế nhau chạy giặc...cứ hiện ra trước mắt tôi. Dụi sáng đôi mắt tối sầm, gạt mồ hôi vã ra lấm tấm như bị cảm....
Hiểu thấu lòng tôi, các cậu ấy bới rất nhanh một cái huyệt! Với cử chỉ ấy, chúng tôi ngầm nói với nhau rằng: Đừng ăn thịt mà hãy chôn cất mẹ nó tử tế...

...Xong việc, Vượn con bám vai nhóm Trinh sát lầm lũi ra đi...Bỗng cậu Hiến cất tiếng: Nó mà chu lên thì bỏ mẹ...

- Ừ nhỉ! - Quay lại!... lại ngay! Nhanh!-  Tôi cũng vừa nghĩ đến điều ấy, để chúng tự tha nhau đi. Sao mình ngu lâu quá vậy - Miệng nói, chân tôi quay ngoắt trở lại, vừa chạy tôi vừa bực bội với chính mình. Anh em lẽo đẽo chạy theo. Vội vàng đặt vượn con vào chỗ cũ, chúng tôi ẩn nấp quan sát và nghe ngóng. Bám cỏ một mình nó bắt đầu kêu... Kêu mãi, kêu hoài, kêu đã lạc cả giọng mà chẳng thấy Mẹ nó đến cứu.
- Cứ bỏ đấy, chút nữa bọn nó đến đấy anh ạ!
- Không! Im quá, chúng bỏ đi hết rồi! nó chết mất!  - Sốt ruột, tôi trả lời. Từ ngày chiến sự tăng lên, bản năng sinh tồn khiến loài thú khôn hơn rất nhiều. Bầy Voi rừng còn biết nằm im, lấy vòi đắp lá nguỵ trang cho nhau khi mới chỉ nghe nho nhỏ, tít từ xa tiếng "đầm già" L19. Loài vượn này chắc chắn còn khôn hơn thế. Không thể chờ thêm được nữa, giành nhau ôm vượn con, chúng tôi tiếp tục hành quân. Dõi theo từng vòng lượn của máy bay địch đang lui dần ra hướng lộ 14, chúng lui tới đâu, bọn tôi tiến tới đó. Bám dưới những gốc cây nắng khô đổ lửa, mồ hôi ngứa ngáy khó chịu, lúc bò, lúc chui, lúc lội, lúc chạy vượt trảng trống như muốn hụt hơi ... Và chẳng bao lâu đã đến vùng buộc phải "Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng". Vùng Địch đang lùng sục. Biệt kích và ổ phục kích nhiều như lá rừng, sự Sống và cái chết chỉ cách nhau một sợi tóc! Mang theo vượn con là đùa giỡn với tử thần - Tôi nghĩ vậy. Chân bước, mắt đảo tròn, tai lắng nghe từng tiếng động nhỏ nhưng lòng phân vân, lo lắng. Không lẽ vất đi? mà đứa nào có gan vất nó?... Nghĩ mãi chẳng ra, thôi thì mặc kệ! Tới đâu hay đó vậy!...
... Những tia nắng chiều đã đổ dài bóng cây trên trảng cỏ trước mặt. Cái nóng gay gắt đang nhường chỗ cho những cơn gió thoảng mát, ngái nồng mùi rừng úa, hoa cỏ dại. Tôi chợt mừng vì vừa nhận ra đường mòn quen thuộc, nhưng lại giật mình khi thấy dấu giày Biệt kích mới tinh in trên đất còn hăng mùi cỏ nát. Đồ hộp khui dở đang rỉ từng giọt nước toả mùi thơm làm chảy nước miếng. Biệt kích vẫn còn đây! - Nghĩ vậy, tôi khoát tay báo hiệu nguy hiểm. Anh em đồng loạt gạt khoá, sẵn sàng nổ súng. Với bao thuốc lá dở dưới đất, thì thào: Hút đi! Chúng vừa hút, không sợ lộ mùi đâu!... Nấp vào từng gốc cây, chúng tôi châm thuốc lấy lại bình tĩnh...
Hải chỉ chỉ vào vượn con trên ngực tôi, ý nói: Hãy cẩn thận. Tôi ớn quá, nếu nó "toe lên" đúng lúc đi ngang qua Ổ kích, thì chắc chắn mìn "Claymore" của Địch sẽ thổi tạt vào sườn và rất có thể sau ánh chớp sáng loà ấy, tất cả chỉ còn là bóng đen vĩnh viễn.
- Bóp chết nó ư? - Tôi vòng ngón tay lấy cổ nó dứ dứ làm hiệu hỏi. Nhưng anh em lắc đầu ...
Nằm rạp một lúc lâu nghe ngóng tình hình... Chúng tôi lại gật gật đầu, đã chết thì cùng chết vậy! Hình như vượn con cũng linh cảm thấy có biến nên cứ nép mình nằm im trong ngực. Chỉ vào tay Hải, tôi lắc đầu để cậu ta đóng lại chốt quả Da láng (Lựu đạn Mỹ), chưa cần thiết, lỡ tay chết cả lũ. Vén cao ống quần báo hiệu trái gài, cảm giác ống đồng sẽ kịp nhận ra khi chạm vào cái dây gài chết tiệt đó. Thấy ghê ghê, khang khác thì dừng chân ngay. Nhưng cũng phải gỡ cho thật khéo, nếu không vẫn toi đấy. Biệt kích Mỹ thường gài pháo hiệu hoặc mìn sát thương bên đường mòn, nằm phục kích. Đôi khi chúng gỡ bỏ lúc rút đi. Nếu phát hiện sớm, bước chân nhẹ nhàng, không tiếng động là có thể lọt qua ổ kích mà địch không hay biết gì. Và có lần thật hú hồn vì vừa qua khỏi thì địch phát hiện đánh mìn, nổ súng sau lưng.
Vượn con sang lưng Hải để tôi vượt lên trước. Những lúc căng thẳng đến nghẹt thở, nhịp tim thình thịch như bật khỏi lồng ngực, anh em trông cậy cả vào những người lâu năm chiến trường như tôi. Mà nào tôi có hơn gì anh em. Cái mùi vừa khét nhà binh, vừa thơm đồ hộp của toán Biệt kích phía trước vẫn thi thoảng lọt vào lỗ mũi sau mỗi cơn gió ngược, tuy làm tôi nuốt nước miếng nhưng vẫn rợn hết cả người. Dấu giày in trên cỏ còn cho biết có nhiều toán Biệt kích cắt chéo qua đây.
- Bỗng Vượn con kêu "oé", cả bọn giật thót người nằm rạp nghe động tĩnh. Một hồi khá lâu... Không thấy gì, tôi ngó về phía Hải. Cậu ta lắc lắc đầu, ra điều không sao. Có thể căng thẳng, nhỡ tay ôm chặt, nó kêu đó thôi. Toát hết mồ hôi hột. Hải nhăn mặt hít hít cái mũi thảm hại, bò đến thì thào bên tai tôi: Ướt hết gáy em rồi! nó cũng sợ vãi tè, anh à!. Giá như giặc không gần thì cười một trận cho đã...
 Vẫn phành phạch tiếng Trực thăng lượn qua đầu và rì rầm tiếng xe nhà binh ngoài quốc lộ 14. Đôi khi nhìn hành động của Trực thăng bên trên có thể biết dưới đất chúng đang làm gì. Nhưng làm sao biết được chúng kéo dài cuộc hành quân đến bao lâu nữa?
Tạm dừng một lát, thì thào với anh em một số điều cần thiết và trường hợp "nếu buộc phải nổ súng, tứ tán đội hình...thì tập kết về giao điểm hai con suối đằng sau", rồi lại tiếp tục lần theo dấu vết Biệt kích mỗi lúc mỗi dày đặc hơn. Tay ngoặc trong cò súng, lưng khom như cò lội nước, rón rén tránh cành, lá khô, từng bước tiến về phía trước. Mỗi tiếng động nhỏ phải nằm xuống nghe ngóng bởi đó là tín hiệu của "cái chết"... Đã thấy mái lợp kiểu "quân ta" ở trước mặt (căn cứ của một đơn vị du kích nào đó). Tất cả rút chốt "Da láng" nằm im, lắng tai những động tĩnh bên trong... Im lặng dễ sợ... Cứ thế lết dần từng chút. Đồ Biệt kích lác đác xung quanh khoảng năm chiếc hầm thùng có lợp nóc nhưng không có vỏ đạn. Theo dấu vết để lại thì họ bị động sơ tán đi vội vàng. Sau đó Địch đã vào đây phục kích khá lâu nhưng không gặp đối thủ. Nếu đến đúng lúc ấy thì chín phần máu sẽ đổ! Có thể chúng vừa đi khỏi đây? Phải chăng Vượn con đã kéo chúng tôi chậm lại một chút? Mất mát lắm, rủi ro nhiều khiến bọn tôi tư duy như những kẻ mê tín dị đoan vậy. Lại nhớ chuyện mới hôm kia, khởi hành khỏi đơn vị chưa lâu đã gặp một chú Rùa bò lên rừng đẻ trứng. Không chừng xúi quẩy, chuyến này đụng "Tăng quỳ". Tạm dừng thịt chén giải vía cái đã rồi mới đi...
 - Miệng nịnh, tay tôi chuyển Vượn con cho Hải... Anh em sửa soạn nấu bữa tối dưới hầm thùng... Quyết định chốt lại đây qua đêm. Xong xuôi, tôi mắc võng xong, ngả lưng và bây giờ mới có thời gian vuốt ve nó. Mà lạ thay, nó hết sợ và bắt đầu nghịch ngợm, ngoáy mũi, sờ tai, túm tóc. Hình như nó đang xoa dịu nỗi đau của tôi đang nghĩ về 8 chiến sỹ mất tích, ai còn, ai mất, ai bị bắt, ai quyết tử để Tổ quốc quyết sinh, ai không chịu nổi đòn thù tra tấn? Vì sao căn cứ của chúng tôi bị lộ?...Cảnh giác để đâu mà mất thế chủ động này? Cứ tự hỏi mình vòng vo tam quốc vậy mà chưa có đáp số nào...Muốn làm rõ  thì chỉ còn trông cậy vào đội Du kích Phước sang, chú năm Phạm, anh Tư Cường và... Hai năm nay Tư Cường như con thoi, đưa chúng tôi khắp các bãi trảng chọn từng vị trí đặt pháo, canh chừng để chúng tôi đo đạc tính toán toạ độ bắn, cung cấp thông tin Mục tiêu, bám chốt Mỹ lấy thực phẩm lót lòng. Đôi lúc mệnh lệnh của anh có sức mạnh hơn Thủ trưởng của tôi. Nhớ lúc Con gái anh tròn xoe đôi mắt nhìn không chớp mấy chú "Việt cộng" (lúc bà con bị lạc trong rừng “Ruốc cá”). Có lẽ cháu chưa một lần nhìn thấy Bố đang cộng tác với “ViCi” đáng sợ nhưng lại đẹp trai, hiền khô, dễ thương thế kia. Lớn quá! Đáng ra mình phải gọi Tư bằng chú mới phải đạo  ... Cô gái chớp chớp đôi mắt đỏ hoe... Bà con đi cùng bạo gan hỏi: Mấy ảnh... là "Giệc cổng" sao?... Địch dọa để dân sợ "Giệc cộng", còn tôi chỉ biết chờ hai cha con trao đổi tình cảm xong là bảo Hải đưa họ ra ven lộ về Ấp. Khuôn trăng tròn ngấn lệ khuất dần sau gốc Săng lẻ còn đọng lại cảm thương trong tôi cho đến mãi bây giờ. Anh Tư tâm sự với chúng tôi về sự chia ly tan tác của gia đình anh... và Chiến tranh đã làm anh đớn đau đến là vậy...
 Bằng mọi cách chúng tôi phải tìm Anh, người Du kích mưu trí, linh hoạt, gan góc và dũng cảm ấy! Tìm nhanh để còn nhờ chăm sóc vượn con này nữa chứ. Màn đêm xua dần cái nóng nực ban ngày, không gian đã dịu mát, quanh đây thứ hoa dại nào nở về đêm, hương thơm thoang thoảng dễ chịu. Mệt mỏi, tôi thiếp đi lúc nào không hay... Vượn con rúc vào gặm mút trong ngực gây nhồn nhột làm tôi tỉnh giấc. Cái mùi hoang dã của nó lúc này mới thấy hôi làm sao. Tôi mặc kệ bởi nghĩ mình có thơm tho gì hơn đâu...vuốt ve vài cái rồi lại lơ mơ suy tính...
... Có lẽ đói, chú ta bắt đầu lên tiếng. Mới đầu chỉ là những tiếng "ngoe" thưa thớt nhưng càng về khuya tiếng kêu càng the thé, càng dồn dập. Tiếng kêu như nức nở, hờn giận, oán trách và căm thù hành động sáng nay của những kẻ đã nổ súng hạ mẹ nó. Màn đêm hồi ấy vẫn thường làm những "Việt cộng" gan cóc tía cảm thấy tự do, sảng khoái và dễ chịu hơn ban ngày. Nhưng sao đêm nay nghe lành lạnh, ghê ghê, rờn rợn cứ như hồn Mẹ nó hiện về bám theo lẩn quất đâu đây. Tiếng khóc của đứa con mất mẹ đau nhói lòng người! Âm thanh ấy đánh thức trong tôi một miền quê nào đó vừa quen, vừa lạ. Phải rồi! Xóm trại, tiếng trẻ khát sữa hờn đêm... Moi túi 8 thứ lấy gói Milk (đồ biệt kích Mỹ) quậy nước cho nó uống và động viên anh em cố chịu đựng đêm nay, hình như Biệt kích rút rồi. Vượn con chỉ chóp chép một chút rồi lại gào tiếp, làm rối tung, rối mù cả lên. Vất bỏ thì sợ Chồn đất làm thịt nó, còn để lại mà chẳng may quanh đây có Biệt kích hoặc "Cây nhiệt đới" phát tín hiệu thì chắc chắn chúng tôi phải trả giá bằng mạng sống của chính mình. Nhưng chẳng có một giải pháp nào hay hơn bởi vẫn chỉ là "tội nghiệp nó mà". Tôi lấy mũ bọc nó đặt xuống hầm cho nó ấm hơn và để cái âm thanh dễ lộ ấy đỡ vang xa. Một lúc sau, tiếng kêu lịm dần... Chúng tôi cũng lịm theo ...vì cũng "Bết" lắm rồi!
- Có tiếng sẹt...ầm! Trái Đại bác địch nổ văng mảnh soàn soạt quanh đây. Tiếng nổ to thế mà chú nhóc không phản ứng gì? Có lẽ sinh ra trong bom đạn, bản năng sinh tồn buộc nó tự biết im lặng hay vì kiệt sức sắp chết rồi?...Cứ mơ mơ, tỉnh tỉnh cho đến khi...Có tiếng thì thào bên tai: Nó còn sống anh à! em vừa cho uống sữa, uống nhiều lắm, đái ướt hết rồi...Tôi choàng tỉnh nhao vội xuống. Nó còn sống thật!...cởi áo đắp thêm và yên tâm nói: Các cậu  yên tâm ngủ đi! pháo bắn gần, chắc chắn "Tụi nó" không ở quanh đây! Sáng dậy sớm...tính sau!...
...Màn đêm chốc lát lại có những tiếng động làm giật mình. Thì ra các cậu ấy không ngủ, cứ ngoi lên, thụt xuống chăm nó.
- Cậu Hiến vừa chui lên vừa lẩm bẩm: D.Mẹ...chưa biết mùi đàn bà đã phải nuôi con nhỏ! Tìm anh Tư đâu bây giờ đây...con ơi…
- Vâng đúng rồi, tôi vẫn biết là phải tìm ngay Tư Cường, nhưng khốn nỗi ban ngày tìm còn khó nữa là đêm tối giặc giã thế này. Chờ tìm được Anh, chắc gì Vượn con còn sống? Hết cách rồi! chỉ còn biết thao thức chờ sáng. Chưa khi nào chúng tôi lại mong trời nhanh sáng như đêm nay. Cầu trời trận càn chiều nay đã kết thúc để ngày mai Dân Be được vào rừng...gửi họ nuôi "Bé".
 Tờ mờ sáng hôm sau, bốn đứa đã nấp sẵn ở bụi cây ven lộ 14 chờ đợi. Cũng thật là sốt ruột! Chờ mãi không thấy gì. Cũng không có dấu hiệu địch mở trận càn mới nên chúng tôi vẫn kiên trì ...
- Có thể bị “thọc đũa từng lon huygo* cơm", nên họ ra trễ đó thôi - Cứ đoán già đoán non như vậy...
- Kia rồi...! Chiếc xe be đầu tiên chấp chới xa xa, mừng hơn mẹ về chợ! Vượn con sống rồi! Nhanh lên chút nữa bà con ơi! Tôi nói cậu Hiến khéo mồm! Chuẩn bị năn nỷ đi!...Thật khéo để người ta nhận nuôi nó!...
...Nó bị đói! lần sau các chú phải ôm nó ngủ chung nhé - Họ nói thế. Nghĩ bụng làm gì còn lần sau nữa, bọn tôi sợ hết đời rồi! Chắc các bạn cũng giận chúng tôi lắm? Nhưng mà thôi! tha thứ đi, Chiến tranh mà!...Sau mấy lời năn nỷ:
- Ừ! mấy chú để tôi ... nếu sống... về được Sài gòn cũng bộn tiền đây! - Miệng nói, tay ôm, chưa gì người ta đã vội vàng quay đi. Chúng tôi nhìn theo người đàn ông làm "Be" xa dần và bắt đầu thấy nhớ... Thế là cuối cùng, đã gửi được vượn con cho một người không quen biết. Biết họ có quý nó không?...
...Bầy vượn đăm đăm nhìn tôi trên kia, biết đâu chẳng là con cháu của chú Vượn trắng gửi nuôi năm ấy?...
- Ông làm sao đấy? - Tiếng gọi giật giọng của bà xã. Vươn vai, vặn mình, hít một hơi thật dài như vừa tỉnh cơn mê... tôi nói:
- Để tôi kể mình nghe… nhé...
Đức Long
Hát cho vui nào! - Đồng đội ơi!