Thứ Bảy, 11 tháng 10, 2014

Từ 04 đến 07/10/2014, Đức Long vào dải đất miền trung viếng mộ Đại Tướng của chúng mình, Thành cổ Quảng Trị, Nghĩa trang đường 9, Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn, Mười bông hoa bất tử ở Ngã ba Đồng Lộc. Lúc thắp hương Đại Tướng mình bật khóc. Chia sẻ cùng anh em một số VIDEO kỷ niệm chuyến đi dưới đây. Mời đồng đội cùng xem. Hãy bấm lần lượt vào đây : (1)  ... (2) ... (3) ... (4) ... (5)
Đồng thời cũng chia vui với tin Đồng đội Đức bảo vừa đăng trên Facebook về buổi gặp mặt của các cụ Sỹ quan Pháo binh Biên Hòa thời còn đối đầu với quân lực Hoa kỳ.

Thứ Ba, 22 tháng 7, 2014

Đồng đội E42 Chia Lửa thời chiến, chia vui thời bình

Đồng chí Long gửi lời cảm ơn đồng đội E42 pháo binh đông nam bộ đã đến chia vui cùng gia đình và giúp hoàn chỉnh Video này. Xin bấm vào Đây để xem.

Thứ Sáu, 18 tháng 7, 2014

40 năm truyền thống Quân đoàn 4, đông nam bộ

Về dự buổi gặp mặt đại diện CCB khu vực phía bắc, nhân 40 năm truyền thống Quân đoàn 4, đồng đội tôi kháo nhau rằng: Ngay từ khi thai nghén, QĐ4 đã anh hùng rồi... Cái bào thai ấy đã kết tụ 3 sư đoàn chủ lực mang tên Công trường 5, CT7, CT9 và đoàn pháo binh Biên hòa, trong những năm tháng đối đầu khốc liệt với quân lực Hoa Kỳ, trên chiến trường miền đông nam bộ, thời kháng chiến gian lao và anh dũng.
Xin nhìn kỹ những gương mặt già nua này đây, xem đồng đội còn nhận ra ai. Rất nhiều trong số họ đã xuất hiện trên chiến trường đồng thời cùng lúc Quân đội Mỹ ào ạt đổ bộ vào miền nam thân yêu. Họ, đã đổ biết bao mồ hôi xương máu, mất mát biết bao đồng đội thân yêu, để tiến vào Sài gòn ào ào như vũ bão. Nước nhà độc lập, non sông gom về một mối. Hòa bình nở tươi trên những khuôn mặt quê nhà. Họ lại ra đi lần nữa để cứu "Bạn" thoát khỏi họa diệt chủng. Đã 40 năm rồi ư?... Tuổi già ập đến, chân đã chậm, mắt đã mờ, nhưng chúng tôi (những cựu chiến binh Trung đoàn 42 pháo binh, Sư đoàn 9) vẫn dõi theo Quân đoàn mình với những thành tích hiện đại hóa huấn luyện, sẵn sằng chiến đấu. Mong sao, trẻ hơn già nhà có phúc, các bạn trẻ sẽ hiện đại hóa những chiêu thức đánh giặc giữ nước truyền thống của cha ông ta thuở trước. Mơ có một ngày, những con Dúi máy gắn định vị giúp các chiến sỹ đồi A1, Những thiết bị thở giúp mỗi chiến sỹ Hải quân lặn giỏi như Yết Kiêu, Những thiết bị nhỏ giúp chiến sỹ không quân phản vệ tức thì ngay khi bị cắn đuôi. Và hơn tất cả, mơ một bản lĩnh hiện đại bất ngờ không dễ gì bắt nạt. Chúc đồng đội, trẻ già đều vui khỏe nhân buổi gặp mặt đầy ý nghĩa này. Các đồng chí bầm vào    Đây   để xem nhanh một số hình ảnh của ngày họp mặt.

Thứ Hai, 2 tháng 6, 2014

Nhanh thế! Mới hồi nào đã hơn ba năm trôi qua rồi. Ta ôn lại những hình ảnh này một chút để chuẩn bị cho 45 năm sắp đến nhé. Cầu mong mọi người còn đủ cả. Cựu chiến binh Trung đoàn 42 Pháo binh Đông nam bộ, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày thành lập. Gặp mặt tại Trấn Vũ Ba Đình Hà Nội.
   Hãy bấm vào Đây để xem lại đồng đội ơi! Vào đây

Thứ Hai, 26 tháng 5, 2014

Về việc dự buổi gặp mặt truyền thống Quân đoàn 4



Quân đoàn 4 chuẩn bị tổ chức:

 “GẶP MẶT KỶ NIỆM 40 NĂM THÀNH LẬP QUÂN ĐOÀN 4”
CCB Trung đoàn 42 sẽ tham dự trong đội hình Sư đoàn 9.

BLL CCB E42 xin thông báo:

  1. Các đồng chí muốn tham dự đăng ký với đồng chí
    Nguyễn Đức Bảo ĐT: 0982 303 118 trước ngày 31/5/2014
  2. Thời gian và địa điểm buổi gặp mặt sẽ được thông báo qua điện thoại và trang web của đơn vị, ngay khi được BTC quyết định.
  3.  Kinh phí dự kiến 100 000 đ/người (tiền ăn bữa trưa)
  4. Thông tin đến các CCB khác cùng biết

Hà Nội ngày 25 tháng 5 năm 2014
T/M BLL CCB TRUNG ĐOÀN 42 PHÁO BINH
Trưởng ban
Nguyễn Đức Bảo

Thứ Tư, 12 tháng 3, 2014

12.Hồ Chí Minh, niềm tin vui trở lại ... (Đức Long)

12.Hồ Chí Minh, niềm tin vui trở lại ...
(Bài viết nhân dịp sống, học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người)

Trong hội thi báo cáo viên giỏi, Nhân thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" năm 2007 của Chi nhánh NHNo&PTNT Thăng long. Một thí sinh gái, nhỏ tuổi nhất hội thi đã gợi nhớ cho tôi một câu chuyện tuy xưa nhưng day dứt lòng người: Năm ấy, giặc Mỹ đánh phá Hà nội ác liệt lắm. Mùa nước nổi, sông Hồng vượt bờ quai, trên mức báo động 3. Chỉ một quả bom thù trúng đê, thì cả Hà nội sẽ chìm trong biển nước. Các đ/c Trung ương khuyên Bác đi sơ tán, bởi Chủ tịch phủ chỉ cách một con sóng Tây hồ là tới mép nước bờ đê. Bác trả lời: Tôi không bỏ Dân đâu!...
Người không bỏ Dân, sao dân nỡ bỏ người. Dân nguyện cùng Người … Kết thúc bài thi, rất tự nhiên, Bé cất lời ca nho nhỏ. Đôi mắt bé dần đỏ hoe theo lời ca mỗi lúc mỗi rõ ràng hơn: Chuyện kể rằng trước lúc người đi xa…Bác muốn nghe một câu hò… Khi Bé ra đời, Bác Hồ chỉ còn trên sách vở, vậy mà khi cất lời ca: Người nghe có cảm giác, y như "em gái nhỏ năm ấy” bước vào căn phòng nức nở ca, nuốt từng "lời Bác dặn trước lúc đi xa". Bé ơi! Phải chăng niềm tin mang sức thần cảm hoá, hay Bác đang về trong mỗi trái tim ta..? Cả hội trường lặng đi vì xúc động ... Không chỉ tôi mà nhiều người trong khán phòng hôm ấy đã rơi lệ.
Nhớ thời còn đánh giặc, khi Thủ đô mới giải phóng, tôi mới lên 7 tuổi, và cũng từ đó, nghe nói có một "Bác Hồ" được mọi người tin yêu. Thế rồi, cứ vào mỗi đêm mùng một tháng 9 hàng năm, ngó trước, nhìn sau... trộm viên gạch chân tường Văn miếu, chen chúc cùng bạn bè giữ chỗ, tranh nhau canh những viên gạch cho tới sáng để ước gì: trong đoàn quân duyệt binh rầm rập, đều tăm tắp sáng mai có Bác Hồ đi qua…
 Những năm ấy, cứ đến giờ khắc giao thừa, dòng người đón xuân quanh Hồ gươm đông như kiến hội, bỗng dừng lại, im phăng phắc, lắng tai... tiếng loa trên cây vọng từng lới chúc ấm áp của Người, như thể đón nhận không gian mới đầy hạnh phúc tràn về.
Giờ phút thiêng liêng ấy, tôi áp tai bên ống nghe "Ga len" (một loại thiết bị cổ, tự chế để nghe Radio thời đó), nuốt từng lời chúc của Người như uống từng dòng sữa Mẹ. "Miền nam là máu của máu Việt nam, là thịt của thịt Việt nam, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi..."
Dời ghế trường cấp III Nguyễn Huệ (Hà đông), anh em tôi mang dòng sữa ấy vào chiến trường khói lửa, thắng không kiêu, bại không nản, quyết xả thân vì non sông đất nước, theo lời Bác dạy kính yêu.
Sau ba đợt tấn công của chiến dịch Mậu thân 68, không chiếm được Sài gòn. Đầu 69, Địch phản công lại dữ dội. Hầu hết đồng bào ta bị gom vào Ấp chiến lược. Các đơn vị chủ lực lớn của ta bị đẩy lên sát rừng biên giới Việt Miên. Số ở lại chỉ là rất ít cấp tiểu đoàn hoặc đại đội độc lập, cùng du kính quân ẩn náu trong dân hoặc rừng ven đô bí mật bất ngờ đánh nhỏ lẻ. Cuối năm 69, các ngả đường tiếp tế từ biên giới Bù đốp , Bù đăng xuống Đồng xoài, Phước Vĩnh chúng tôi bị Biệt kích Mỹ phong tỏa hoàn toàn. Trong lúc Địch tìm diệt ráo riết thì cái đói khủng khiếp lại ập đến. Một lần trinh sát phước Vĩnh quay về, chúng tôi gần như ngất xỉu, khi nghe tin "Bác" đã đi xa. Tôi ngả mình dài trên một thân cây đổ, buông cây súng vô hồn, thẫn thờ bâng quơ nhìn trời xanh, mấy cành cây xơ xác lá, ngẩn ngơ như mất đi thứ gì quý giá nhất trên đời. Dưới cái nắng nung người, nồng nặc mùi lá khô vì chất độc diệt cỏ càng làm cho nỗi buồn thêm tê tái. Thiếu cơm, đói muối lâu ngày, gối chân rã rời. Mặc cho cây súng trượt sõng soài dưới đất, tôi buột miệng kêu: Mẹ ơi!.... Nghĩ đến, Miền Bắc quê tôi! đã xa, càng xa vời vợi. Tự hỏi lòng rằng ngày về còn nữa không em? Chợt nhận ra tiếng than ấy có thể làm đột quỵ anh em, tôi vội lảng sang chuyện khác. Hỏi "Củ" luộc có còn không?. Tớ đói quá…
... Chuyện buồn mãi, cho đến một ngày… Lễ tang Bác được cử hành trọng thể tại Hà nội. Chiến khu "Đ" cùng cả nước nín thở lắng nghe Di chúc của "Người", do Tổng bí thư Lê Duẩn nghẹn ngào lời điếu văn tiễn biệt. Một tia sáng, dù chỉ rất nhỏ nhoi, thấp thoáng xuất hiện cuối "đường hầm 69". Chúng tôi chợt nhận ra. Thì ra, Bác đã đi xa, nhưng Đạo đức trong sáng, ý chí và nghị lực của Người vẫn còn nguyên đây đó. Quan trọng hơn là điều ấy đã thật sự thấm sâu vào từng con tim, khối óc của từng đồng chí trong BCH Trung ương lúc bấy giờ, củng cố lại niềm tin "Tất thắng" cho toàn thể quân và dân hai miền Nam, Bắc quyết chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, dành độc lập, tự do. Vâng! Những cơn sốt rét thâm môi, tím mắt, cái đói cồn cào quặn thắt từng cơn, cái chết chỉ cách nửa sợi tóc kề bên. Còn nữa, với sự cám dỗ vật chất của kẻ thù vẫn mời mọc từng đêm. Chúng tôi quyết không đảo ngũ,"Chiêu hồi", đầu hàng hay phản bội. Chúng tôi tiếp tục đánh và đánh còn hay hơn trước... Ấy...Chính là đức tin vào con Người Việt nam trong sáng ấy! Sự trong sáng của Người khiến những người “có học” ở phía bên kia chiến tuyến cũng phải nghiêng mình bái biệt. Suốt ngày tang lễ, không một tiếng súng nào của địch bắn qua.
 Đức tin ấy là điểm tựa vững chắc nhất giúp chúng tôi giành lại từng thế chủ động trên chiến trường Đông nam bộ lúc bấy giờ. Thế rồi ngày 30 tháng 4 năm 75, đời việc gì đến đã đến. Ước vọng và lời chúc của Người thành hiện thực, Bác ơi!...Cả nước như trẻ thơ, vui, hò, reo ngập tràn đại thắng. Sài gòn tưởng như Bác tiến về cùng những canh quân ta.
 ...Hoà bình lập lại, giang sơn gấm vóc ta đã gom về một mối. Noi gương "Người", cả nước quyết xây dựng một con "Rồng" Việt nam mới. Chỉ hơi tiếc rằng, có một thời... mình quá say "Cộng trạng"...mà sao lãng lời dạy của Người, coi nhẹ lợi ích "trồng người". Để những bóng ma "Bá Kiến, Chí phèo" lại chập chờn quay về nhạo báng cảnh trái ngang.

...Giờ đây, xem lại những thước phim đẫm lệ lễ tang Người, tôi bồi hồi, xúc động, không chỉ muốn khóc mà còn muốn ước... Nếu được ước thì: ước gì non sông bất khuất VN ta lại sớm sinh ra một người con đức, tài như thế, một BCHTW như thế, để hàn vá lại nóc nhà truyền thống đạo đức, để lấy lại niềm tin "nói và làm" như thế. Và ước gì cái đó lại thấm sâu vào từng con tim, khối óc của mỗi chúng ta như thuở nào Bác mới "đi xa". Thế thì "bầy sâu" còn đâu nơi ẩn náu. Cuộc mưu sinh đâu còn tới độ nhọc nhằn thâu đêm nơi góc chợ, mom sông. Những thế lực "cơ hội" đâu còn nơi chọc ngoáy khối đại đoàn kết dân mình.
Có một thời ta đã sống như Người. Đến nay, tại sao ta không thể làm như Người, để tình đồng chí, nghĩa "Đồng bào" lại mặn nồng như Bác thuở nào vẫn sống ở trong ta?
Vẫn biết rằng, tạo hóa sinh ra loài người với trí thông minh càng tuyệt vời bao nhiêu thì lòng tham càng "vô đáy" bấy nhiêu. Thế gian này biết bao những Thánh nhân cả đời dày công tìm tòi cái gọi là để "tiết chế" lòng tham vô đáy ấy. Nhưng xem ra còn nhiều điều phải bàn lắm...
 Lòng yêu nước thương dân và Tấm gương đạo đức trong sáng của Người, phải chăng cũng là "một lời giải" cho bài toán cực khó ấy? nếu Được vậy thì quý biết bao. Dân giàu, nước mạnh... ngoại xâm vắng bóng. Tổ quốc vững bền, hòa bình muôn đời mãi mãi Việt nam ta./.
Vui cùng Xuân Giáp Ngọ. Bấm vào đây Xuân tặng Anh 2014 để chúc nhau nào đồng đội ơi: 


Thứ Ba, 11 tháng 3, 2014

11- Trở lại Vùng ven

11.TRỞ LẠI VÙNG VEN (4/2006)

Tình cờ, VTV3 mời tôi làm nhân chứng cho chương trình "Bài ca chiến thắng" nhân kỷ niệm 30 năm ngày toàn thắng (30/4/2005). Thật không may, đúng sau cái đêm vết thương tái phát co giật gần như thức trắng,  tôi gắng gượng đến trường quay S9 VTV với khuôn mặt tái nhợt, (vì trót hứa với Biên tập viên Hoàng Trang đến tận nhà mời)... Bởi đang đau trong người, tôi như ngồi trên chảo lửa, chỉ mong nhanh chóng kết thúc chương trình. Ai ngờ kéo đến gần 3 tiếng đồng hồ có khổ thân không chứ. Trộm nghĩ , đen thế không biết, trăm năm mới có một lần được phỏng vấn trên truyền hình toàn quốc mà lại bị đau thế này, sức đâu để  trả lời tỉnh táo đây.  Chỉ có một câu hỏi, làm tôi nhói đau bởi hoàn cảnh không thể nói ra.
- Sao nhớ chiến trường thế, mà đã 30 năm rồi, chú chưa trở lại thăm nơi ấy?- MC hỏi. Chẳng lẽ nói cộc lốc một câu; Chú không có tiền đi thì ngượng chết.  Nên đành chữa thẹn rằng - Chú tin một ngày, có đủ điều kiện chú sẽ trở lại thăm chiến trường xưa! Trộm nghĩ, bọn trẻ ngày nay được học hành có khác, chúng toàn xoáy đúng vào chỗ cần xoáy. Chỉ có điều lão già ngại không nói thẳng thôi. Ngày xưa đi đâu, Ở đâu, nhờ dân đấy, có gì ăn nấy. Ngày nay … Khác lắm rồi!  Nghe nói “cơm tù” dọc quốc lộ 1 mà phát ớn. Không tiền lấy gì mà đi? Lại còn chuyện, ông bạn lâu ngày mới tìm thấy, nhà nghèo có mỗi con trâu là đầu cơ nghiệp, đập chết thịt liền đãi đồng đội. Biết chuyện, anh em lại phải quyên góp bốn phương tám hướng, trong nam ngoài bắc để cứu nguy …. Kể cũng ngại.
… Thế rồi, thấm thoắt đã tròn một năm qua, cũng vào dịp 30 tháng tư năm sau (2006), tôi gom đủ tiền  "Trở lại vùng ven" như đã chót hứa với truyền hình. Nhưng rồi sau lần ấy chẳng còn ma nào thèm phỏng vấn tôi nữa. Thế là tôi đành viết truyện “Trở lại vùng ven” này vậy…Sau nhiều lần dập xóa, viết đi sửa lại chưa hài lòng mà vẫn gửi cho Tuổi trẻ điện tử “Mãi mãi tuổi hai mươi” duyệt đăng liền. Nay tôi nắn nót lại đôi chút, góp vui cùng đồng đội E42 nghe…
… Con tàu tốc hành hướng nam đưa tôi trở lại vùng chiến sự hơn 30 năm trước. Ngày ấy, hằn học trên đầu là tiếng gầm rít của các loại máy bay quân sự mỹ. Rình rập dưới đất với những họng súng đen ngòm núp trong từng gốc cây, ụ mối. Tôi dán mắt vào cảnh vật lao qua vun vút để cố tìm ra một chút kỷ niệm xưa. Xa xa lút tầm mắt, non sông ta trải dài mênh mông, kỳ vĩ khiến lòng tôi nao nao khó tả. Con tàu còn mỏi bánh, vậy mà chỉ với đôi dép cao su, điều gì khiến chúng tôi xẻ dọc Trường sơn như huyền thoại thế vậy?  Phải chăng là sức mạnh kết tinh  từ ngàn năm xưa để lại. Tổ quốc tôi!... đất nước tôi tuyệt vời và đáng yêu biết bao. Có được phút gạt bỏ mọi ưu phiền thường nhật để thảnh thơi ngắm nhìn không biết chán nước non này, tôi cố liên tưởng hình bóng người xưa cầm gươm đi mở cõi với đồng đội tôi ngã xuống trong cuộc đấu tranh để giữ lấy dải đất này, nước mắt bỗng ứa ra. Chúng mày nằm đâu? Mấy thằng bạn của tôi? Lịch sử được viết thêm những trang vàng trong cuốn sử ngàn năm anh hùng xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước. Thương người xưa đi mở đất, xót bạn tôi đã hy sinh. Trở lại Nam bộ lần này, tôi quyết viếng thăm cả những người còn sống và đã khuất.
  Nơi đầu tiên là gặp mặt các bạn chiến đấu cũ nhân ngày họp mặt hàng năm của tiểu đoàn 10 pháo binh Miền đông, tại nhà đ/c Thịnh Trinh sát, gần Ngã ba Thái lan, Long thành trên đường Sài gòn - Vũng tàu. Hơn 30 năm mới gặp lại, chỉ còn biết ôm chặt nhau mà rằng: Còn sống là tốt rồi. Mong rằng bà con trong quán nước ven đường hiểu cho điều ấy; “Hai thằng già” ôm chặt nhau còn hơn cả tình nhân.  Giọt nước mắt nhớ về kỷ niệm dìu nhau trong lửa đạn, sốt rét tái từng cơn, bón từng thìa cháo, chia nhau từng hơi thuốc lá, mẩu sắn lùi. Tình cảm ấy, chỉ có những người lính, từng kinh qua cuộc chiến đấu một mất một còn mới hiểu được. Chúng tôi ôn lại quá khứ hào hùng của Tiểu đoàn, trải qua bao thăng trầm lịch sử chiến tranh. Tiểu đoàn ấy, bao nhiêu lần phải bổ xung quân số? Bao nhiêu lần đổi tên tách ra nhập vào…vv. Đại đội 3 sau trận đọ súng ven sông Bé (cuối 1969), B40 bóp cò kêu cái tạch, đạn thối không bay, xe tăng cán lên còn lại vài đứa. Rồi từ một đơn vị Pháo phản lực vác vai thuần nhất ( DKB-K33 thuộc E69- Pháo binh Biên hoà) chuyển dần thành tiểu đoàn hoả lực đa năng của binh chủng Đặc công  (D10 - 367)?  Bạn bè tò mò hỏi tôi chết rồi, sao sống lại?... Ôi đủ chuyện trên đời. Riêng có một chuyện được trao đổi rất nhiều, đó là trận “ Ma làm” sẽ kể lại riêng.
 Lưu luyến chia tay nhau, tôi tiếp tục đến thăm và cảm ơn vị Trung đoàn trưởng năm ấy, người ra lệnh dùng dao găm cắt nốt cái chân đứt dở để cứu tôi thoát chết trong trận đánh cuối cùng. Anh cùng gia đình đang sinh sống tại Phường Thảo điền Quận 2 TP HCM. Nghe anh kể, tưởng như mới xảy ra hôm qua. Anh nói :  nghĩ lại giây phút ấy là đầu mình lại nhức nhối vô cùng, tiếng gọi cầu cứu,  thất thanh: "Anh Bảy ơi... " như đặt cả niềm tin cứu sống vào người chỉ huy, vẫn còn như tiếng sét trong đầu anh. Nhìn thằng Chí, biết không sống nổi, nó mất cả mảng mông và cái đùi thì làm sao sống nổi...Ôm thằng Quế vào lòng, nhét bao nhiêu bông, gạc vào ngực mà máu vẫn cứ đùn ra. Là chỉ huy, biết chiến sỹ mình đau đớn trước lúc đi xa mà bất lực hoàn toàn, xót lắm mày ơi.  Những năm hoà bình, anh thường tập thiền nhưng vẫn không sao quên được. Lúc ấy đầu càng đau dữ dội. Tôi ăn với anh bữa cơm có măng “Le”. Ngày ấy măng Le thay cơm, nhưng bây giờ lại là đặc sản. Có thể anh đã thông báo cho một số anh em lập nghiệp ở trong này nên, sau khi chia tay anh, tôi có nhiều cú điện gọi đầu tiên của đồng đội cũ muốn gặp nhau. Như anh chàng Chu tây ngày ấy đưa tôi đi cấp cứu. Gần 12 giờ đêm rồi mà chuông tôi còn réo, oang oang tiếng anh ta: Nói địa chỉ chỗ mày đi !... Chỉ cần có địa chỉ thì nửa đêm ngóc ngách nào ở cái đất Sài gòn này, tao cũng đến được ngay bây giờ... Khuya lắm rồi thôi để lần sau đi, hết phép sớm mai phải về bắc rồi. Trung, nam, bắc có cả, đồng đội tôi ở lại Sài gòn lập nghiệp khá đông. Nhưng thời gian hạn hẹp, làm sao đến thăm hết được. Hứa thì hứa vậy chứ biết khi nào... lần sau đây? Một lần cũng đủ ốm lắm rồi… Nghĩ vậy mà lòng vẫn cầu mong, may ra có dịp nào đó … chúng nó còn sống cả…
Tạm biệt những người còn sống, tôi đến Đền Bến Dược Củ chi thăm người đã chết. Thôi, chẳng nhớ chính xác chúng nằm chỗ nào thì đến đây vậy! Chính nơi đây, tôi đang điều nghiên “Căn cứ Đồng Dù”, có điện gọi về gấp “kết nạp…”. Thắp nén hương chắp tay cầu nguyện. Ai đó thỉnh lên 3 tiếng chuông dõng dạc, ngân vang khu đền linh lặng. Không nén nổi xúc động, nước mắt tôi cứ thế trào ra. Người đến viếng đông lắm, nhưng sao im lặng, trật tự đến thế.  Có phải hồn liệt sỹ trên kia vẫn lặng lẽ chứng giám lòng biết ơn, sự ngưỡng mộ và nhìn lại chính mình của mỗi chúng tôi ? Cầu cho vong hồn các Bác siêu thoát, cầu cho hoà bình vĩnh cửu trên đất nước này. Hơn bốn vạn rưởi đồng chí đã ghi danh thành hàng, thành lớp trên kia, và còn bao nhiêu nữa, chưa tìm thấy hoặc chưa nhớ hết ? Vâng, đó là những anh hùng đã ngã xuống trong 2 cuộc kháng chiến, dành lại những gì cho thế hệ hôm nay đã có, đang có và sẽ có.
Ôi!... những cái mái cong như đình, chùa, miếu mạo thường có trên bao làng quê Việt nam. Nhưng độ bền vững, sự bề thế và trang trọng thì không đâu bằng. Tôi thầm cảm ơn ai ? đã bảo vệ nguyên trạng mảnh đất còn ghi dấu tích bom đạn này và tạo nên một quần thể đền đài thờ tự hồn liệt sỹ ngàn năm uy nghiêm đó.  Sông Sài gòn  hiền hoà lượn quanh phía sau gợi lại kỷ niệm của những lần vượt sông trinh sát. Ngày ấy " Bobo" của giặc rẽ sóng khạc đạn khét lẹt vào đôi bờ ẩn nấp, Trực thăng chiến đấu rà sát mặt sông, săn đón từng cụm Lục bình trôi tản mạn theo dòng. Vẫn khúc sông này Đồng đội tôi, những Ai lặng lẽ trôi cùng dòng máu loang không trở lại?...
  Cây đèn "Angcol" tự tạo lại đưa tôi đến một kỷ niệm khác - Rừng địa đạo Củ chi. Chúng tôi bước vào cửa rừng và thấy mấy chiếc võng đung đưa qua lại - Nhớ quá đi thôi, năm xưa chúng tôi cũng vắt vẻo như thế. Tôi tiến lại gần và thấy hơi khác một chút. Hồi ấy, chiếc võng nylon mỏng dính và chúng tôi mắc võng kiểu khác, đơn giản, nhanh hơn, càng nằm càng chắc chắn, nếu có "động", chỉ cầm 2 đầu dây giật mạnh, võng tự rời rất nhanh, tiện tay kéo luôn xuống địa đạo hoặc vừa bôn tẩu vừa cuộn võng lại. Vừa nói tôi vừa thao tác lại để mấy người cùng xem. Vào sâu trong rừng, một cửa hầm bí mật thời đó hiện ra. Có cậu sinh viên thăm quan tò mò đã tụt nửa người xuống địa đạo, hai tay giơ lên, miệng la to : không tụt được. Tôi đùa : Có mấy trái đại bác nổ trên này, chắc cả đoàn SV các cháu sẽ tụt hết xuống đấy trong nháy mắt thôi. Mọi người cùng cười vang vui vẻ... như chưa bao giờ được cười vậy. Ngày xưa các cô,  các chú cũng cười "đã" như các cháu vậy đó, nếu tổ quốc bị xâm lăng, màu cờ sắc áo bị lăng nhục, thì dù thế hệ nào cũng vùng lên kiên cường như vậy cả, lòng tự trọng đó đã ăn sâu vào máu dân nam ta rồi, các cháu à!
Trang phục của các cháu hướng dẫn viên làm tôi lại nhớ dáng người thiếu nữ ngày ấy đã hướng dẫn từng bước chân tôi đi tránh mìn gài dưới cỏ, dẫn tôi giữa lòng địa đạo tối thui. Nay em phiêu bạt nơi đâu? Ô kìa, tượng những người du kích trong bộ đồ năm ấy (tượng hay Ma nơ canh mốt thời thượng nhỉ?), vẫn cây đèn "nguéo", vẫn chiếc khăn rằn, tấm vải dù... đứng hiên ngang trong chiếc lều lợp lá hiện ra trước mắt. Hình như người thiết kế chương trình này đã đoán trúng tâm lý chúng tôi. May mắn, tôi ghé vào chụp vài tấm hình chung với các cô ấy làm kỷ niệm. Hồi đó, mang tiếng là cựu  trinh sát chủ lực Miền đông, nhưng đã vào đất Củ chi này thì phải theo chị em du kích, dẫn đâu đi đấy, chỉ đâu chui đấy, không hề biết cấu trúc tổng quát và phương thức an toàn như hướng dẫn cụ thể bây giờ. Nghĩ cũng phải thôi. Biết để mà các ông bô bô ra có mà chết cả lũ.
Những hố bom "đìa" chỉ còn sót lại trong rừng được bảo tồn, có một thời trên đấy trơn trọi là đất khô, khét tanh mùi máu và thuốc đạn. Nay cây đã lên xanh. Hàng tấn bom mìn được đào lên, vô hiệu hoá và gom trong các căn nhà mái lá dừa nước, làm lưu niệm. Trong vô số những mảnh bom đó, mảnh nào đã phạt đứt chân tôi? Câu ca năm ấy  " ...Cá nhớ đồng xưa về xây tổ mới, giữ trứng nuôi con trong từng hố bom đìa..."  khiến lòng tôi dâng lên một nỗi nhớ, thương, mủi lòng muốn khóc. Còn nhớ những nụ cười năm ấy, trong khói bom, vẫn hiên ngang không biết cúi đầu. Ôi đẹp làm sao! Cái đẹp của sự rắn rỏi, duyên dáng, diệu kỳ. Nếu còn phép, chắc hẳn, tôi sẽ ở lại đây một đêm để cảm nhận dư âm gió sông Sài gòn đung đưa từng nhành cây, ngọn lá, may ra có được giấc mơ  gặp lại người xưa…. Người con gái năm ấy đang cười với tôi kìa… Nhưng không thể được, tôi đang chạy đua để tìm lại ngày ấy của chính mình.  Có bao nhiêu bạn bè biết vẫn sống mà chưa gặp mặt? Bao vùng đất và con người đã cứu sống và giúp tôi vượt qua lửa đạn chiến tranh, vẫn chưa tìm thấy? Nhưng dù ít hay nhiều, tôi đã tìm lại vài hình ảnh năm xưa của chính mình. Trở về Hà nội với công việc mưu sinh hàng ngày, ghi lại cảm xúc của mình với đồng đội và mời các bạn trẻ " Mãi mãi tuổi 20" cùng nghe. Xin gửi khúc tâm tình này đến Huyện đội, ban quản lý khu di tích Bến Dược - Củ chi và xin trân trọng cảm ơn Đảng, nhà nước và các đồng chí " Đất thép Thành đồng". Mong các đồng chí giữ mãi danh hiệu bất tử ấy.


 Đức Long